An-Nur · 33/64
Bản Dịch Phiên Âm — Surah An-Nur
وَلْيَسْتَعْفِفِ الَّذِينَ لَا يَجِدُونَ نِكَاحًا حَتَّىٰ يُغْنِيَهُمُ اللَّهُ مِن فَضْلِهِ ۗ وَالَّذِينَ يَبْتَغُونَ الْكِتَابَ مِمَّا مَلَكَتْ أَيْمَانُكُمْ فَكَاتِبُوهُمْ إِنْ عَلِمْتُمْ فِيهِمْ خَيْرًا ۖ وَآتُوهُم مِّن مَّالِ اللَّهِ الَّذِي آتَاكُمْ ۚ وَلَا تُكْرِهُوا فَتَيَاتِكُمْ عَلَى الْبِغَاءِ إِنْ أَرَدْنَ تَحَصُّنًا لِّتَبْتَغُوا عَرَضَ الْحَيَاةِ الدُّنْيَا ۚ وَمَن يُكْرِههُّنَّ فَإِنَّ اللَّهَ مِن بَعْدِ إِكْرَاهِهِنَّ غَفُورٌ رَّحِيمٌ ۝٣٣
Wal yasta`fifil lazeena laa yajidoona nikaahan hata yughniyahumul laahu mi fadlih; wallazeena yabtaghoonal kitaaba mimmaa malakat aimaanukum fakaatiboohum in `alimtum feehim khairanw wa aatoohum mimmaalil laahil lazeee aataakum; wa laa tukrihoo fatayaatikum `alal bighaaa`i in aradna tahassunal litabtaghoo `aradal hayaatid dunyaa; wa mai yukrihhunna fa innal laaha mim ba`di ikraahihinna Ghafoor Raheem
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Đối với những ai không có điều kiện để kết hôn thì hãy kiềm chế (bản thân không phạm điều Haram) cho đến khi Allah làm cho họ giàu có bởi hồng phúc của Ngài. Và những ai trong số những người nô lệ thuộc quyền sở hữu của các ngươi muốn một chứng thư (chuộc tự do cho bản thân họ) thì các ngươi hãy viết cho họ nếu các ngươi biết họ là những người tốt, và các ngươi hãy đưa cho họ (món quà) từ tài sản mà Allah đã ban cấp cho các ngươi. Các ngươi chớ vì lợi ích cuộc sống trần thế mà ép những phụ nữ nô lệ của các ngươi hành nghề mãi dâm nếu họ muốn giữ tiết hạnh. Và nếu ai cưỡng ép họ thì sau việc cưỡng ép đó, Allah vẫn tha thứ và khoan dung (đối với những nạn nhân bị cưỡng ép, tội của họ được qui cho những ai cưỡng ép họ).

M Mishary Rashid Alafasy ✓
M Mahmoud Khalil Al-Husary ✓
A Abdurrahman As-Sudais ✓
M Mohamed Siddiq Al-Minshawi ✓
A Abdul Basit Abdul Samad ✓
A Ali Al-Hudhaify ✓
A Ahmed ibn Ali al-Ajamy ✓
A Abu Bakr Ash-Shaatree ✓
M Muhammad Ayyoub ✓
A Abdullah Basfar ✓
A Abdullah Al-Juhani ✓
M Maher Al Muaiqly ✓
0:00
0:00
📜

Bản Dịch — Tafsir

1) Giải thích các từ ngữ cần làm rõ trong câu Kinh:

  • وَلْيَسْتَعْفِفِ (wal-yasta'fif): hãy tìm kiếm sự trong sạch, tiết chế bản thân khỏi điều Haram (cấm).
  • نِكَاحًا (nikāḥan): hôn nhân, khả năng kết hôn.
  • الْكِتَابَ (al-kitāb): ở đây nghĩa là "hợp đồng giải phóng" (mukātabah) — thỏa thuận giữa người nô lệ và chủ nhân để người nô lệ trả dần tiền rồi được tự do.
  • مَا مَلَكَتْ أَيْمَانُكُمْ (mā malakat aymānukum): những người nô lệ thuộc quyền sở hữu của các ngươi.
  • فَكَاتِبُوهُمْ (fa-kātibūhum): hãy ký kết hợp đồng giải phóng với họ.
  • الْبِغَاءِ (al-bighā'): tình dục ngoài hôn nhân, mại dâm.
  • فَتَيَاتِكُمْ (fatayātikum): các nữ tỳ, nô lệ nữ của các ngươi.
  • تَحَصُّنًا (taḥaṣṣunan): sự trong sạch, đức hạnh, mong muốn giữ mình khỏi điều ô uế.
  • عَرَضَ الْحَيَاةِ الدُّنْيَا ('araḍa al-ḥayāti al-dunyā): lợi lộc tạm bợ, vật chất phù du của đời sống trần tục này.

2) Giải thích nội dung câu Kinh:

Allah ra lệnh cho những ai chưa có khả năng kết hôn — vì nghèo khó hoặc vì lý do nào đó — hãy giữ mình trong sạch, kiên nhẫn tránh xa mọi điều Haram, cho đến khi Allah ban cho họ sự dư dả từ ân huệ của Ngài và mở đường cho họ kết hôn. Đây là lời khuyên kiên nhẫn và tin tưởng vào sự ban phát của Allah.

Sau đó, Allah hướng dẫn về những người nô lệ muốn được giải phóng: nếu họ muốn ký kết hợp đồng với chủ nhân để trả dần một khoản tiền rồi được tự do, thì chủ nhân nên chấp thuận — với điều kiện họ nhận thấy ở người nô lệ đó có điều tốt: sự trưởng thành, khả năng lao động kiếm sống, và đức hạnh trong tôn giáo. Chủ nhân cũng nên giúp đỡ họ bằng cách tặng một phần tài sản hoặc giảm bớt khoản tiền chuộc mà họ phải trả. Đây là hành động tử tế, khuyến khích giải phóng con người khỏi cảnh nô lệ.

Tiếp theo, Allah nghiêm cấm tuyệt đối việc ép buộc các nữ tỳ của mình hành nghề mại dâm để tìm kiếm lợi lộc trần tục — nhất là khi chính họ mong muốn được sống trong sạch và đức hạnh. Hành vi này bị lên án nặng nề. Và nếu ai đó cưỡng ép họ làm điều ô uế, thì Allah là Đấng Tha Thứ và Nhân Từ đối với những người phụ nữ bị ép buộc đó — bởi họ không có tội khi bị cưỡng bức; tội lỗi thuộc về kẻ đã ép buộc họ.

3) Những bài học và giá trị hấp dẫn trong câu Kinh:

  • Islam tôn trọng phẩm giá con người: Câu Kinh khuyến khích giải phóng nô lệ từ hơn 1400 năm trước, trong khi thế giới lúc đó coi nô lệ là tài sản đơn thuần. Đây là minh chứng cho tính nhân đạo sâu sắc của Islam.
  • Kiên nhẫn và tin tưởng vào Allah: Người chưa thể kết hôn được khuyên hãy giữ mình trong sạch và tin rằng Allah sẽ ban phát từ ân huệ của Ngài — một thông điệp đầy hy vọng và an ủi.
  • Bảo vệ người yếu thế: Allah đứng về phía những người phụ nữ bị cưỡng bức, xóa bỏ tội lỗi cho họ và quy trách nhiệm cho kẻ áp bức. Điều này cho thấy Islam là tôn giáo của công lý và lòng thương xót.
  • Khuyến khích lòng tốt và chia sẻ: Việc chủ nhân được khuyên giảm bớt khoản tiền chuộc hoặc tặng tài sản cho nô lệ thể hiện tinh thần hào phóng và tình huynh đệ trong cộng đồng Muslim.
  • Con đường đến với Islam: Những giá trị cao đẹp này — công lý, nhân từ, bảo vệ phẩm giá, giải phóng con người — chính là lời mời gọi chân thành để mỗi người tìm hiểu và yêu mến Qur'an, bởi đó là nguồn chỉ dẫn mang lại hạnh phúc cho cả đời này và đời sau.


📜 Câu Kinh 31-35 — Surah An-Nur

31وَقُل لِّلْمُؤْمِنَاتِ يَغْضُضْنَ مِنْ أَبْصَارِهِنَّ وَيَحْفَظْنَ فُرُوجَهُنَّ وَلَا يُبْدِينَ زِينَتَهُنَّ إِلَّا مَا ظَهَرَ مِنْهَا ۖ وَلْيَضْرِبْنَ بِخُمُرِهِنَّ عَلَىٰ جُيُوبِهِنَّ ۖ وَلَا يُبْدِينَ زِينَتَهُنَّ إِلَّا لِبُعُولَتِهِنَّ أَوْ آبَائِهِنَّ أَوْ آبَاءِ بُعُولَتِهِنَّ أَوْ أَبْنَائِهِنَّ أَوْ أَبْنَاءِ بُعُولَتِهِنَّ أَوْ إِخْوَانِهِنَّ أَوْ بَنِي إِخْوَانِهِنَّ أَوْ بَنِي أَخَوَاتِهِنَّ أَوْ نِسَائِهِنَّ أَوْ مَا مَلَكَتْ أَيْمَانُهُنَّ أَوِ التَّابِعِينَ غَيْرِ أُولِي الْإِرْبَةِ مِنَ الرِّجَالِ أَوِ الطِّفْلِ الَّذِينَ لَمْ يَظْهَرُوا عَلَىٰ عَوْرَاتِ النِّسَاءِ ۖ وَلَا يَضْرِبْنَ بِأَرْجُلِهِنَّ لِيُعْلَمَ مَا يُخْفِينَ مِن زِينَتِهِنَّ ۚ وَتُوبُوا إِلَى اللَّهِ جَمِيعًا أَيُّهَ الْمُؤْمِنُونَ لَعَلَّكُمْ تُفْلِحُونَ
Và Ngươi hãy bảo những người có đức tin nữ hạ thấp cái nhìn xuống và giữ phần kín (cơ thể) của họ; Ngươi hãy bảo họ chớ phô bày nét đẹp của họ ra ngoài ngoại trừ những bộ phận nào lộ ra tự nhiên (gương mặt, bàn tay), Ngươi hãy bảo họ phủ khăn xuống che ngực; Ngươi hãy bảo họ chớ phô bày nét đẹp của họ ra ngoại trừ đối với chồng, cha ruột, cha chồng, con trai ruột, con trai của chồng, anh em trai ruột, con trai của anh em trai ruột, con trai của chị em gái ruột, những người phụ nữ giúp việc, những người đàn ông nô lệ thuộc quyền sở hữu của họ, những người đàn ông phục dịch đã mãn dục, hoặc những bé trai chưa có cảm giác với phần kín của phụ nữ; và Ngươi hãy bảo họ chớ đánh chân mạnh xuống đất hầu để người khác biết được đồ trang sức được giấu trong người của họ. Và tất cả các ngươi hãy quay về sám hối với Allah, hỡi những người có đức tin, mong rằng các ngươi thành đạt.
32وَأَنكِحُوا الْأَيَامَىٰ مِنكُمْ وَالصَّالِحِينَ مِنْ عِبَادِكُمْ وَإِمَائِكُمْ ۚ إِن يَكُونُوا فُقَرَاءَ يُغْنِهِمُ اللَّهُ مِن فَضْلِهِ ۗ وَاللَّهُ وَاسِعٌ عَلِيمٌ
Các ngươi (hỡi những người có đức tin nam nữ) hãy kết hôn với những người độc thân trong các ngươi và những người đức hạnh trong số những người nô lệ nam và nữ của các ngươi. Nếu họ nghèo thì Allah sẽ làm cho họ giàu bởi hồng phúc của Ngài, quả thật Allah là Đấng có bổng lộc bao la, là Đấng hằng biết (mọi việc).
33وَلْيَسْتَعْفِفِ الَّذِينَ لَا يَجِدُونَ نِكَاحًا حَتَّىٰ يُغْنِيَهُمُ اللَّهُ مِن فَضْلِهِ ۗ وَالَّذِينَ يَبْتَغُونَ الْكِتَابَ مِمَّا مَلَكَتْ أَيْمَانُكُمْ فَكَاتِبُوهُمْ إِنْ عَلِمْتُمْ فِيهِمْ خَيْرًا ۖ وَآتُوهُم مِّن مَّالِ اللَّهِ الَّذِي آتَاكُمْ ۚ وَلَا تُكْرِهُوا فَتَيَاتِكُمْ عَلَى الْبِغَاءِ إِنْ أَرَدْنَ تَحَصُّنًا لِّتَبْتَغُوا عَرَضَ الْحَيَاةِ الدُّنْيَا ۚ وَمَن يُكْرِههُّنَّ فَإِنَّ اللَّهَ مِن بَعْدِ إِكْرَاهِهِنَّ غَفُورٌ رَّحِيمٌ
Đối với những ai không có điều kiện để kết hôn thì hãy kiềm chế (bản thân không phạm điều Haram) cho đến khi Allah làm cho họ giàu có bởi hồng phúc của Ngài. Và những ai trong số những người nô lệ thuộc quyền sở hữu của các ngươi muốn một chứng thư (chuộc tự do cho bản thân họ) thì các ngươi hãy viết cho họ nếu các ngươi biết họ là những người tốt, và các ngươi hãy đưa cho họ (món quà) từ tài sản mà Allah đã ban cấp cho các ngươi. Các ngươi chớ vì lợi ích cuộc sống trần thế mà ép những phụ nữ nô lệ của các ngươi hành nghề mãi dâm nếu họ muốn giữ tiết hạnh. Và nếu ai cưỡng ép họ thì sau việc cưỡng ép đó, Allah vẫn tha thứ và khoan dung (đối với những nạn nhân bị cưỡng ép, tội của họ được qui cho những ai cưỡng ép họ).
34وَلَقَدْ أَنزَلْنَا إِلَيْكُمْ آيَاتٍ مُّبَيِّنَاتٍ وَمَثَلًا مِّنَ الَّذِينَ خَلَوْا مِن قَبْلِكُمْ وَمَوْعِظَةً لِّلْمُتَّقِينَ
Quả thật, TA (Allah) đã ban xuống cho các ngươi những lời mặc khải rõ ràng cùng với những bài học (được rút ra từ những câu chuyện) của những người trước các ngươi và lời khuyên răn dành cho những người ngoan đạo.
35۞ اللَّهُ نُورُ السَّمَاوَاتِ وَالْأَرْضِ ۚ مَثَلُ نُورِهِ كَمِشْكَاةٍ فِيهَا مِصْبَاحٌ ۖ الْمِصْبَاحُ فِي زُجَاجَةٍ ۖ الزُّجَاجَةُ كَأَنَّهَا كَوْكَبٌ دُرِّيٌّ يُوقَدُ مِن شَجَرَةٍ مُّبَارَكَةٍ زَيْتُونَةٍ لَّا شَرْقِيَّةٍ وَلَا غَرْبِيَّةٍ يَكَادُ زَيْتُهَا يُضِيءُ وَلَوْ لَمْ تَمْسَسْهُ نَارٌ ۚ نُّورٌ عَلَىٰ نُورٍ ۗ يَهْدِي اللَّهُ لِنُورِهِ مَن يَشَاءُ ۚ وَيَضْرِبُ اللَّهُ الْأَمْثَالَ لِلنَّاسِ ۗ وَاللَّهُ بِكُلِّ شَيْءٍ عَلِيمٌ
Allah là Ánh Sáng của các tầng trời và trái đất. Hình ảnh Ánh Sáng của Ngài giống như một ngọn đèn được đặt ở một hốc tường, ngọn đèn nằm trong một chiếc lồng thủy tinh, lồng thủy tinh như một ngôi sao lấp lánh; ngọn đèn được thắp từ một loại dầu của cây ô liu ân phúc, không cần mặt trời ở hướng đông hay ở hướng tây, dầu của nó gần như muốn tỏa sáng mặc dù lửa vẫn chưa chạm đến; ánh sáng bên trên ánh sáng. Allah hướng dẫn đến Ánh Sáng của Ngài đối với ai Ngài muốn. Allah đưa ra hình ảnh thí dụ cho nhân loại bởi vì Allah là Đấng Hằng Biết mọi thứ.
An-NurMục Lục Kinh Qur'an
64Câu Kinh
MedinanRevelation
33Câu Kinh

Bản Dịch — An-Nur 33

Surah An-Nur Câu Kinh 33 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Đối với những ai không có điều kiện để kết…

Surah Câu Kinh 33/64 — Surah An-Nur النور (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah An-Nur Nghe, Surah An-Nur Bản Dịch, Surah An-Nur mp3, Surah An-Nur pdf. Câu Kinh 31–35. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.





Kinh Qur'an


Tuesday, September 29, 2026

Đừng quên chúng tôi trong những lời cầu nguyện tốt lành của bạn