Wa izaa kunta feehim fa aqamta lahumus Salaata faltaqum taaa`ifatum minhum ma`aka walyaakhuzooo aslihatahum fa izaa sajadoo fal yakoonoo minw waraaa`ikum waltaati taaa`ifatun ukhraa lam yusalloo falyusallo ma`aka walyaakhuzoo hizrahum wa aslihatahum; waddal lazeena kafaroo law taghfuloona `anaslihatikum wa amti`atikum fa yameeloona `alaikum mailatanw waahidah; wa laa junaaha `alaikum in kaana bikum azam mimmatarin aw kuntum mmardaaa an tada`ooo aslihatakum wa khuzoo hizrakum; innal laaha a`adda lilkaafireena `azaabam muheenaa
📖 Bản Dịch (Ý Nghĩa Tiếng Việt)
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Khi Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) ở cùng với họ (trên sa trường) thì Ngươi hãy làm Imam dẫn lễ nguyện Salah cho họ. Ngươi hãy để một nhóm trong số họ dâng lễ nguyện Salah cùng Ngươi và mang theo vũ khí bên mình. Khi các ngươi quỳ lạy (xong Rak’ah thứ nhất) thì họ sẽ lùi về phía sau để nhóm còn lại vẫn chưa hành lễ bước đến dâng lễ cùng Ngươi (ở Rak’ah thứ hai) và họ cần đề phòng và cũng mang theo vũ khí bên mình. Những kẻ vô đức tin vẫn luôn chờ đợi giây phút lơ là của các ngươi về vũ khí và hành trang hầu thừa cơ hội đánh úp các ngươi một trận. Các ngươi không có tội nếu các ngươi đặt vũ khí xuống vì gặp khó khăn do trời đổ mưa hoặc do đau bệnh nhưng các ngươi phải luôn đề cao cảnh giác. Chắc chắn, Allah đã chuẩn bị sẵn cho đám người vô đức tin một sự trừng phạt nhục nhã.
🌐 Additional reference in Melayu
🌐 Melayu
Dan apabila engkau (wahai Muhammad) berada dalam kalangan mereka (semasa perang), lalu engkau mendirikan sembahyang dengan (menjadi imam) mereka, maka hendaklah sepuak dari mereka berdiri (mengerjakan sembahyang) bersama-samamu, dan hendaklah mereka menyandang senjata masing-masing; kemudian apabila mereka telah sujud, maka hendaklah mereka berundur ke belakang (untuk menjaga serbuan musuh); dan hendaklah datang pula puak yang lain (yang kedua) yang belum sembahyang (kerana menjaga serbuan musuh), maka hendaklah mereka bersembahyang (berjamaah) bersama-samamu, dan hendakah mereka mengambil langkah berjaga-jaga serta menyandang senjata masing-masing. Orang-orang kafir memang suka kalau kamu cuai lalai akan senjata dan harta benda kamu, supaya dengan jalan itu mereka dapat menyerbu kamu beramai-ramai dengan serentak. Dan tidaklah kamu berdosa meletakkan senjata masing-masing, jika kamu dihalangi sesuatu yang menyusahkan disebabkan hujan atau kamu sakit. Dan hendaklah kamu mengambil langkah berjaga-jaga. Sesungguhnya Allah telah menyediakan bagi orang-orang kafir itu azab seksa yang amat menghina.
Khi Ngươi – hỡi Thiên Sứ Muhammad – đang ở giữa đoàn quân trong lúc chiến đấu chống kẻ thù, và Ngươi muốn dẫn họ cầu nguyện, thì hãy chia quân thành hai nhóm: một nhóm đứng cầu nguyện cùng Ngươi và mang theo vũ khí bên mình, còn nhóm kia đứng canh gác đối diện kẻ thù. Khi nhóm cầu nguyện cùng Ngươi hoàn thành một rak'ah (đơn vị cầu nguyện) với Ngươi, họ tự hoàn tất phần còn lại của mình, rồi rút lui về phía sau để thay thế vị trí canh gác. Sau đó, nhóm canh gác – những người chưa cầu nguyện – tiến lên cầu nguyện một rak'ah cùng Ngươi, rồi khi Ngươi kết thúc bằng taslim, họ tự hoàn tất phần còn lại. Trong suốt quá trình đó, tất cả phải giữ vững sự cảnh giác và mang theo vũ khí phòng thân. Những kẻ phủ nhận đức tin luôn khao khát rằng các ngươi sẽ lơ là vũ khí và hành trang của mình, để chúng có thể bất ngờ tấn công các ngươi chỉ bằng một đòn duy nhất và tiêu diệt các ngươi. Tuy nhiên, không có tội gì cho các ngươi nếu gặp phải khó khăn do mưa lớn hoặc đang bị bệnh tật, mà phải đặt vũ khí xuống. Dù vậy, hãy luôn giữ sự đề phòng ở mức tối đa có thể. Quả thật, Allah đã chuẩn bị cho những kẻ phủ nhận đức tin một hình phạt nhục nhã và hạ thấp họ.
Những bài học và lợi ích rút ra từ câu Kinh:
Câu Kinh cho thấy sự linh hoạt và nhân từ của Islam trong mọi hoàn cảnh, ngay cả trong lúc chiến tranh căng thẳng, việc thờ phượng vẫn được duy trì với hình thức phù hợp và an toàn.
Islam đề cao tinh thần đoàn kết, tổ chức và trách nhiệm tập thể: mỗi cá nhân vừa hoàn thành nghĩa vụ tôn giáo vừa bảo vệ cộng đồng.
Allah hiểu rõ khó khăn của con người, nên đã cho phép giảm nhẹ các yêu cầu khi gặp trở ngại như mưa lớn hay bệnh tật, thể hiện lòng thương xót vô biên.
Câu Kinh nhắc nhở người có đức tin luôn cảnh giác trước âm mưu của kẻ thù, nhưng đồng thời không được để nỗi sợ hãi chi phối đến mức bỏ bê việc thờ phượng.
Lời hứa về hình phạt nhục nhã dành cho những kẻ chống đối là lời cảnh tỉnh công bằng, khẳng định rằng mọi hành động chống lại chân lý đều sẽ bị đền đáp thích đáng.
Cuối cùng, câu Kinh khuyến khích người đọc tin tưởng vào sự công minh của Allah, đồng thời noi gương kiên định và khôn ngoan của Thiên Sứ trong việc kết hợp giữa đức tin và thực tiễn cuộc sống.
Khi Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) ở cùng với họ (trên sa trường) thì Ngươi hãy làm Imam dẫn lễ nguyện Salah cho họ. Ngươi hãy để một nhóm trong số họ dâng lễ nguyện Salah cùng Ngươi và mang theo vũ khí bên mình. Khi các ngươi quỳ lạy (xong Rak’ah thứ nhất) thì họ sẽ lùi về phía sau để nhóm còn lại vẫn chưa hành lễ bước đến dâng lễ cùng Ngươi (ở Rak’ah thứ hai) và họ cần đề phòng và cũng mang theo vũ khí bên mình. Những kẻ vô đức tin vẫn luôn chờ đợi giây phút lơ là của các ngươi về vũ khí và hành trang hầu thừa cơ hội đánh úp các ngươi một trận. Các ngươi không có tội nếu các ngươi đặt vũ khí xuống vì gặp khó khăn do trời đổ mưa hoặc do đau bệnh nhưng các ngươi phải luôn đề cao cảnh giác. Chắc chắn, Allah đã chuẩn bị sẵn cho đám người vô đức tin một sự trừng phạt nhục nhã.
Người nào di cư vì con đường chính nghĩa của Allah chắc chắn sẽ tìm thấy trên trái đất có nhiều chỗ lánh nạn, bao la. Người nào rời bỏ nhà cửa của mình để di cư đến với Allah và Thiên Sứ của Ngài rồi chết (trên đường) thì phần thưởng của y chắc chắn ở nơi Allah. Quả thật, Allah hằng lượng thứ, khoan dung.
Khi các ngươi đi xa trên trái đất, các ngươi sẽ không bị tội cho việc các ngươi rút ngắn lễ nguyện Salah (từ bốn Rak’ah thành hai Rak’ah) vì sợ bị những kẻ vô đức tin có thể tấn công. Những kẻ vô đức tin thực sự là kẻ thù công khai của các ngươi.
Khi Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) ở cùng với họ (trên sa trường) thì Ngươi hãy làm Imam dẫn lễ nguyện Salah cho họ. Ngươi hãy để một nhóm trong số họ dâng lễ nguyện Salah cùng Ngươi và mang theo vũ khí bên mình. Khi các ngươi quỳ lạy (xong Rak’ah thứ nhất) thì họ sẽ lùi về phía sau để nhóm còn lại vẫn chưa hành lễ bước đến dâng lễ cùng Ngươi (ở Rak’ah thứ hai) và họ cần đề phòng và cũng mang theo vũ khí bên mình. Những kẻ vô đức tin vẫn luôn chờ đợi giây phút lơ là của các ngươi về vũ khí và hành trang hầu thừa cơ hội đánh úp các ngươi một trận. Các ngươi không có tội nếu các ngươi đặt vũ khí xuống vì gặp khó khăn do trời đổ mưa hoặc do đau bệnh nhưng các ngươi phải luôn đề cao cảnh giác. Chắc chắn, Allah đã chuẩn bị sẵn cho đám người vô đức tin một sự trừng phạt nhục nhã.
Khi các ngươi đã hoàn thành xong lễ nguyện Salah thì các ngươi hãy tụng niệm, tán dương Allah (như được truyền dạy theo Sunnah) trong mọi lúc dù đang đứng, đang ngồi hoặc đang nằm nghiêng một bên. Sau khi các ngươi được bình an (không còn sợ hãi nữa) thì các ngươi hãy thiết lập lễ nguyện Salah (cho thật chu đáo). Quả thật, lễ nguyện Salah đã được ban hành cho những người có đức tin vào giờ giấc ấn định.
Các ngươi chớ đừng chậm trễ trong việc đuổi bắt địch. Nếu các ngươi đau đớn (bởi thương vong) thì bọn họ cũng bị đau đớn (bởi thương vong) tương tự như các ngươi, có điều các ngươi có niềm hy vọng nơi Allah còn bọn họ chẳng có niềm hy vọng nào. Và Allah là Đấng Hằng Biết, Đấng Sáng Suốt.
Surah An-Nisa Câu Kinh 102 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Khi Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) ở cùng với họ…
Surah Câu Kinh 102/176 — Surah An-Nisa النساء (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah An-Nisa Nghe, Surah An-Nisa Bản Dịch, Surah An-Nisa mp3, Surah An-Nisa pdf. Câu Kinh 100–104. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.
Trang web SurahQuran được thành lập như một nỗ lực khiêm tốn để phụng sự Kinh Sách cao quý và Sunnah thuần khiết, mời gọi đến với Allah và tạo điều kiện cho các khoa học tôn giáo theo đường lối của Kinh Qur'an và Sunnah. Chúng tôi ca ngợi và tạ ơn Allah vì ân huệ của Ngài, và cầu xin Ngài chấp nhận việc làm của chúng tôi và làm cho chúng thành thật vì gương mặt cao quý của Ngài.