Sa yaqoolu lakal mukhal lafoona minal-A`raabi shaighalatnaaa amwaalunaa wa ahloonaa fastaghfir lanaa; yaqooloona bi alsinatihim maa laisa fee quloobihim; qul famany yamliku lakum minal laahi shai`an in araada bikum darran aw araada bikum naf`aa; bal kaanal laahu bimaa ta`maloona Khabeeraa
📖 Bản Dịch (Ý Nghĩa Tiếng Việt)
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
(Hỡi Thiên Sứ Muhammad!) Những người Ả-rập vùng sa mạc trì trệ (trong việc đi chinh chiến cùng Ngươi) sẽ nói với Ngươi: “Chúng tôi bận trông coi tài sản và người nhà của chúng tôi. Vì vậy, xin Người hãy cầu xin (Allah) tha thứ cho chúng tôi.” Lưỡi của chúng nói những điều không có trong trái tim của chúng. Ngươi hãy bảo chúng: “Vậy ai có khả năng can thiệp giùm các người với Allah nếu Ngài muốn hại các người hoặc muốn ban phúc cho các người? Không, Allah thông toàn những điều các người làm.”
🌐 Additional reference in Melayu
🌐 Melayu
Orang-orang "A'raab" (kaum Arab Badwi) yang ketinggalan tidak turut (bersama-sama denganmu ke Hudaibiyah), akan berkata kepadamu (wahai Muhammad): "Kami telah dihalangi oleh urusan menjaga keselamatan harta benda dan anak isteri kami; oleh itu, pohonkanlah ampun kepada Allah untuk kami". Mereka berkata dengan lidahnya apa yang tidak ada dalam hatinya. Katakanlah (wahai Muhammad: "Jika demikian sebab ketinggalan kamu) maka adakah sesiapa yang berkuasa mempertahankan kamu daripada terkena atau menerima sesuatu ketetapan dari Allah jika Ia tetapkan kamu ditimpa bahaya atau beroleh manfaat? (Tidak ada sesiapapun, dan apa yang kamu katakan itu bukanlah menjadi sebab) bahkan Allah adalah Maha Mendalam pengetahuanNya tentang sebab ketinggalan yang kamu lakukan itu (dan Ia akan membalasnya).
الْمُخَلَّفُونَ: những kẻ bị bỏ lại phía sau, không được tham gia cùng đoàn quân.
الْأَعْرَابِ: những người Ả Rập sống ở vùng sa mạc, du mục.
شَغَلَتْنَا: đã làm chúng tôi bận rộn.
فَاسْتَغْفِرْ لَنَا: hãy cầu xin Allah tha thứ cho chúng tôi.
بِأَلْسِنَتِهِم: bằng lưỡi của họ, tức là chỉ nói ngoài miệng.
مَا لَيْسَ فِي قُلُوبِهِمْ: điều không có trong lòng họ.
يَمْلِكُ: nắm giữ, có quyền kiểm soát.
ضَرًّا: điều hại, tai họa.
نَفْعًا: điều lợi, điều tốt.
خَبِيرًا: Đấng Am Tường, Thông Suốt mọi việc.
Tafsir (giải thích ý nghĩa câu Kinh):
Allah thông báo với Thiên Sứ Muhammad rằng những người Ả Rập du mục đã không tham gia cùng Người trong chuyến đi đến Makkah sẽ đến gặp Người khi Người trở về và đưa ra lý do: "Tài sản và gia đình của chúng tôi đã khiến chúng tôi bận rộn, không thể đi cùng Người được. Xin Người hãy cầu xin Allah tha thứ cho chúng tôi." Nhưng Allah – Đấng Tối Cao – phơi bày sự thật rằng họ chỉ nói những lời này bằng miệng lưỡi mà thôi, chứ trong lòng họ không hề có sự hối hận thật sự cũng không có mong muốn được tha thứ. Họ chỉ muốn lấy lòng Thiên Sứ để che đậy sự thất hứa của mình.
Vì vậy, Allah hướng dẫn Thiên Sứ trả lời họ: "Vậy ai có thể can thiệp hoặc ngăn cản bất cứ điều gì từ Allah nếu Ngài muốn giáng tai họa xuống các ngươi, hoặc nếu Ngài muốn ban điều tốt lành cho các ngươi? Không một ai có quyền lực đó cả." Điều này cho thấy việc họ tưởng rằng chỉ cần Thiên Sứ cầu xin tha thứ là đủ để thay đổi ý muốn của Allah là một sự hiểu lầm nghiêm trọng. Allah hoàn toàn biết rõ mọi điều họ làm, dù là công khai hay thầm kín, và Ngài sẽ thưởng phạt công bằng theo những gì họ thực sự làm, chứ không phải theo lời nói dối trá bề ngoài.
Những bài học và lợi ích rút ra từ câu Kinh:
Câu Kinh cho thấy Allah là Đấng Thông Suốt mọi điều, Ngài biết rõ những gì ẩn giấu trong lòng con người, không ai có thể lừa dối Ngài bằng lời nói suông.
Việc cầu xin tha thứ chỉ có giá trị khi xuất phát từ sự hối cải chân thành trong lòng, chứ không phải chỉ là lời nói ngoài miệng để đối phó.
Không ai – dù là Thiên Sứ hay bất kỳ ai khác – có thể thay đổi ý muốn của Allah, dù là mang lại lợi ích hay gây tai họa. Điều này dạy người Muslim chỉ nên cầu xin trực tiếp từ Allah và đặt trọn niềm tin nơi Ngài.
Câu Kinh khuyến khích người Muslim sống trung thực, không tìm cách ngụy biện hay đổ lỗi để trốn tránh trách nhiệm, đặc biệt trong những nghĩa vụ quan trọng như tham gia cùng cộng đồng vì chính nghĩa.
Cuối cùng, câu Kinh nhắc nhở rằng Allah luôn công bằng và am tường mọi hành động của con người, vì vậy hãy hành động đúng đắn và chân thành, bởi phần thưởng và hình phạt đều nằm trong tay Ngài. Điều này khiến trái tim người có đức tin thêm gắn bó với Islam và yêu mến sự chân thật trong thờ phượng.
(Hỡi Thiên Sứ Muhammad!) Những người Ả-rập vùng sa mạc trì trệ (trong việc đi chinh chiến cùng Ngươi) sẽ nói với Ngươi: “Chúng tôi bận trông coi tài sản và người nhà của chúng tôi. Vì vậy, xin Người hãy cầu xin (Allah) tha thứ cho chúng tôi.” Lưỡi của chúng nói những điều không có trong trái tim của chúng. Ngươi hãy bảo chúng: “Vậy ai có khả năng can thiệp giùm các người với Allah nếu Ngài muốn hại các người hoặc muốn ban phúc cho các người? Không, Allah thông toàn những điều các người làm.”
Những người cam kết trung thành với Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) thật ra là họ đang cam kết trung thành với Allah. Bàn tay của Allah trên bàn tay của họ. Vì vậy, người nào nuốt lời thì kẻ đó đã bội ước với chính mình; ngược lại, người nào thực hiện đúng như những gì đã cam kết với Allah thì Ngài sẽ ban cho y phần thưởng vĩ đại.
(Hỡi Thiên Sứ Muhammad!) Những người Ả-rập vùng sa mạc trì trệ (trong việc đi chinh chiến cùng Ngươi) sẽ nói với Ngươi: “Chúng tôi bận trông coi tài sản và người nhà của chúng tôi. Vì vậy, xin Người hãy cầu xin (Allah) tha thứ cho chúng tôi.” Lưỡi của chúng nói những điều không có trong trái tim của chúng. Ngươi hãy bảo chúng: “Vậy ai có khả năng can thiệp giùm các người với Allah nếu Ngài muốn hại các người hoặc muốn ban phúc cho các người? Không, Allah thông toàn những điều các người làm.”
Không, các ngươi (hỡi những người không tham chiến cùng với Thiên Sứ Muhammad) nghĩ rằng Thiên Sứ (của Allah) và những người có đức tin sẽ không bao giờ trở về với gia đình của họ lần nữa. Điều đó làm cho các ngươi cảm thấy khoan khoái trong lòng và các ngươi đã có suy nghĩ xấu; quả thật các ngươi là một đám người sắp bị hủy diệt.
Surah Al-Fath Câu Kinh 11 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : (Hỡi Thiên Sứ Muhammad!) Những người Ả-rập vùng sa mạc…
Surah Câu Kinh 11/29 — Surah Al-Fath الفتح (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Al-Fath Nghe, Surah Al-Fath Bản Dịch, Surah Al-Fath mp3, Surah Al-Fath pdf. Câu Kinh 9–13. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.
Trang web SurahQuran được thành lập như một nỗ lực khiêm tốn để phụng sự Kinh Sách cao quý và Sunnah thuần khiết, mời gọi đến với Allah và tạo điều kiện cho các khoa học tôn giáo theo đường lối của Kinh Qur'an và Sunnah. Chúng tôi ca ngợi và tạ ơn Allah vì ân huệ của Ngài, và cầu xin Ngài chấp nhận việc làm của chúng tôi và làm cho chúng thành thật vì gương mặt cao quý của Ngài.