Surah Asy-Syu'ara
PDF —
227 Câu Kinh Meccan PDF
Built right in your browser — download starts automatically

Surah Asy-Syu'ara pdf — Tải xuống (Tiếng Việt)

Surah Asy-Syu'ara pdf Tiếng Việt — Tải xuống Surah Asy-Syu'ara Bản Dịch. Asy-Syu'ara (Meccan) 227 Câu Kinh.



Surah Asy-Syu'ara
227 Câu Kinh · Meccan · Tiếng Việt
bismillah
ﭑﭒ
Ta. Sin. Mim.
ﭓﭔﭕﭖﭗ
Đó là những Câu Kinh của một Kinh Sách minh bạch (không mơ hồ và thần bí).
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝﭞ
Có lẽ Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) khổ tâm, đau buồn khiến bản thân chết dần chết mòn về việc họ không có đức tin.
ﭟﭠﭡﭢﭣﭤﭥﭦﭧﭨﭩﭪ
Nếu muốn, TA (Allah) có thể ban một phép lạ từ trên trời xuống khiến họ cúi cổ thần phục, (nhưng TA không làm thế vì để thử thách họ xem họ có tin vào điều vô hình hay không).
ﭫﭬﭭﭮﭯﭰﭱﭲﭳﭴﭵﭶ
Bất cứ điều nhắc nhở nào được ban xuống cho họ từ Đấng Độ Lượng, họ đều quay lưng bỏ đi.
ﭷﭸﭹﭺﭻﭼﭽﭾﭿ
Quả thật, họ đã phủ nhận (những điều mà Thiên Sứ của họ đã mang đến), rồi đây họ sẽ nhận được tin về những điều mà họ đã từng chế giễu.
ﮀﮁﮂﮃﮄﮅﮆﮇﮈﮉﮊﮋ
Lẽ nào họ đã không quan sát trái đất, nơi mà TA đã làm mọc ra biết bao cây cối tốt lành?
ﮌﮍﮎﮏﮐﮑﮒﮓﮔﮕ
Quả thật, trong đó là một bằng chứng (cho việc TA thừa khả năng làm người chết sống lại), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
ﮖﮗﮘﮙﮚﮛ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﮜﮝﮞﮟﮠﮡﮢﮣﮤ
(Ngươi hãy nhớ lại) khi Thượng Đế của Ngươi gọi Musa phán bảo: “Ngươi hãy đi gặp một đám người làm điều sai quấy.”
ﮥﮦﮧﮨﮩﮪ
“Đó là đám người của Pha-ra-ông. (Ngươi hãy bảo) họ sợ (Allah).”
ﮫﮬﮭﮮﮯﮰﮱ
(Musa) thưa: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, bề tôi thực sự lo sợ rằng họ sẽ cho bề tôi nói dối.”
ﯓﯔﯕﯖﯗﯘﯙﯚﯛ
“Và lồng ngực của bề tôi thì chật hẹp, chiếc lưỡi của bề tôi thì nói không lưu loát, xin Ngài cử thêm Harun làm phò tá cho bề tôi.”
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡﯢ
“Bề tôi đã phạm tội với họ (vì đã lỡ tay giết chết một người của họ) nên bề tôi sợ họ sẽ giết bề tôi.”
ﯣﯤﯥﯦﯧﯨﯩﯪﯫﯬ
(Allah) phán bảo (Musa và Harun): “Sẽ không sao, hai ngươi cứ lên đường với những Phép Lạ của TA. Quả thật TA sẽ ở cùng với hai ngươi, TA luôn nghe thấy tất cả.”
ﯭﯮﯯﯰﯱﯲﯳﯴ
“Hai Ngươi cứ đi gặp Pha-ra-ông, hai ngươi hãy nói với y: Chúng tôi là Thiên Sứ của Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
ﯵﯶﯷﯸﯹﯺ
“Xin ngài hãy để con cháu Israel ra đi với chúng tôi.”
ﯻﯼﯽﯾﯿﰀﰁﰂﰃﰄﰅ
(Pha-ra-ông) bảo (Musa): “Há ta đã không thương yêu và nuôi nấng Ngươi như con cái hay sao? Chẳng phải Ngươi đã ở với ta nhiều năm trong đời Ngươi hay sao?”
ﰆﰇﰈﰉﰊﰋﰌﰍ
“Vậy mà Ngươi đã nhẫn tâm làm một việc đáng lẽ ra Ngươi không nên làm, Ngươi là một tên vong ơn bội nghĩa.”
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖﭗ
(Musa) nói (với Pha-ra-ông): “Tôi đã làm điều đó lúc tôi là kẻ không biết gì (vì chưa nhận được sự mặc khải của Allah).”
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝﭞﭟﭠﭡﭢﭣ
“Vì sợ ngài nên Tôi đã bỏ trốn đi xa và Thượng Đế của Tôi đã ban cho Tôi sự khôn ngoan và cử Tôi làm Thiên Sứ (của Ngài).”
ﭤﭥﭦﭧﭨﭩﭪﭫﭬ
“Đấy là ân xưa mà ngài đã nại ra để khiển trách Tôi rồi đã bắt người dân Israel làm nô lệ.”
ﭭﭮﭯﭰﭱﭲ
Pha-ra-ông hỏi (Musa): “Thế Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật là gì?”
ﭳﭴﭵﭶﭷﭸﭹﭺﭻﭼﭽ
(Musa) đáp: “Là Thượng Đế của các tầng trời, trái đất và vạn vật giữa trời đất, nếu quí ngài muốn có đức tin vững chắc (nơi Ngài thì quí ngài hãy chỉ thờ phượng một mình Ngài thôi).”
ﭾﭿﮀﮁﮂﮃ
(Pha-ra-ông) nói với các cận thần: “Các khanh có nghe rõ (lời bịa đặt của Musa) chăng?”
ﮄﮅﮆﮇﮈﮉ
(Musa) nói tiếp: “Đó là Thượng Đế của quí ngài và cả tổ tiên của quí ngài nữa.”
ﮊﮋﮌﮍﮎﮏﮐﮑ
(Pha-ra-ông) bảo: “Chắc chắn Thiên Sứ được gởi đến cho các ngươi là một tên điên!”
ﮒﮓﮔﮕﮖﮗﮘﮙﮚﮛﮜ
(Musa) nói tiếp: “Đó là Thượng Đế của hướng đông, hướng tây và vạn vật giữa hai hướng đó, nếu quí ngài nhận thức được.”
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢﮣﮤﮥ
(Pha-ra-ông) nói với (Musa): “Nếu nhà Ngươi quyết tôn thờ một Thượng Đế khác ngoài ta thì chắc chắn ta sẽ cho nhà Ngươi bị tù đày.”
ﮦﮧﮨﮩﮪﮫ
(Musa) nói với (Pha-ra-ông): “Ngay cả khi tôi mang đến cho ngài một điều gì đó chứng minh rõ ràng ư?”
ﮬﮭﮮﮯﮰﮱﯓﯔ
(Pha-ra-ông) nói: “Vậy nhà Ngươi hãy trình nó ra xem nếu nhà Ngươi đúng là một người nói thật.”
ﯕﯖﯗﯘﯙﯚﯛ
Thế là Musa ném chiếc gậy của Y xuống, nó lập tức biến thành một con rắn hiển hiện.
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡﯢ
Và khi Y rút bàn tay của Y ra (sau khi áp nó vào ba sườn), bàn tay của Y trở nên trắng sáng trước những người chứng kiến.
ﯣﯤﯥﯦﯧﯨﯩﯪ
(Pha-ra-ông) quay sang bảo các cận thần: “Tên này quả nhiên là một phù thủy tài giỏi.”
ﯫﯬﯭﯮﯯﯰﯱﯲﯳ
“Hắn định dùng pháp thuật để đánh đuổi các khanh ra khỏi lãnh thổ của các khanh. Vậy các khanh có ý xử trí hắn ra sao?”
ﯴﯵﯶﯷﯸﯹﯺﯻ
(Các cận thần của Pha-ra-ông) thưa: “Hãy tạm tha cho hắn và người anh em của hắn, chúng ta sẽ tập hợp các pháp sư trong các thành phố lại.”
ﯼﯽﯾﯿﰀ
“Tất cả những nhà phù thủy tài giỏi sẽ đến trình diện bệ hạ.”
ﰁﰂﰃﰄﰅﰆ
Vậy là các phù thủy được triệu tập tại một nơi hẹn vào một ngày đã được công bố rõ ràng.
ﰇﰈﰉﰊﰋﰌ
Và mọi người bảo nhau: “Các người không đi dự đại hội (để xem ai thắng trong cuộc so tài giữa Musa và các phù thủy) sao?”
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖﭗﭘ
“Có lẽ chúng ta sẽ theo các nhà phù thủy nếu họ thắng cuộc.”
ﭙﭚﭛﭜﭝﭞﭟﭠﭡﭢﭣﭤﭥ
Khi đến nơi, những nhà phù thủy thưa với Pha-ra-ông: “Nếu chúng tôi thắng thì chúng tôi có được ban thưởng không?”
ﭦﭧﭨﭩﭪﭫﭬ
(Pha-ra-ông) bảo: “Chắc chắn có, nhất định lúc đó các ngươi sẽ trở thành các cận thần của ta.”
ﭭﭮﭯﭰﭱﭲﭳﭴ
Musa bảo (các phù thủy): “Quí ngài hãy ném bảo bối của quí ngài xuống.”
ﭵﭶﭷﭸﭹﭺﭻﭼﭽﭾ
Thế là, họ ném những sợi dây và chiếc gậy của họ xuống, nói: “Với quyền lực của Pha-ra-ông, chúng tôi chắc chắn sẽ chiến thắng.”
ﭿﮀﮁﮂﮃﮄﮅﮆﮇ
Nhưng khi Musa ném chiếc gậy của Y xuống, nó nuốt mất những món vật mà họ đã làm giả.
ﮈﮉﮊﮋ
Lúc đó, những tên phù thủy liền cúi xuống quỳ lạy.
ﮌﮍﮎﮏﮐ
Họ nói: “Chúng tôi đã có đức tin nơi Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
ﮑﮒﮓﮔ
“Thượng Đế của Musa và Harun.”
ﮕﮖﮗﮘﮙﮚﮛﮜﮝﮞﮟﮠﮡﮢﮣﮤﮥﮦﮧﮨﮩﮪﮫﮬ
(Thấy thế), Pha-ra-ông quát (các nhà phù thủy): “Các ngươi dám tin hắn trước khi ta cho phép các ngươi ư? Hắn quả nhiên là tên cầm đầu của các ngươi; hắn đã dạy các ngươi pháp thuật; rồi các ngươi sẽ sớm biết hậu quả. Chắc chắn, ta sẽ cho chặt tay này và chân kia của các ngươi và sẽ cho đóng đinh toàn bộ các ngươi trên thập tự giá.”
ﮭﮮﮯﮰﮱﯓﯔﯕﯖ
(Các nhà phù thủy) trả lời (Pha-ra-ông): “Chẳng có gì thiệt hại cả, bởi vì rồi đây chúng tôi sẽ quay về gặp Thượng Đế của chúng tôi mà thôi.”
ﯗﯘﯙﯚﯛﯜﯝﯞﯟﯠﯡﯢ
“Chúng tôi kỳ vọng Thượng Đế của chúng tôi sẽ tha thứ cho chúng tôi những lỗi lầm của chúng tôi bởi vì chúng tôi là những người có đức tin đầu tiên.”
ﯣﯤﯥﯦﯧﯨﯩﯪﯫﯬ
TA đã mặc khải cho Musa, phán: “Ngươi hãy dẫn hết đám bề tôi của TA rời đi ban đêm, quả thật các ngươi sẽ bị truy sát.”
ﯭﯮﯯﯰﯱﯲ
Rồi Pha-ra-ông cho quân lính loan tin đi khắp các thành phố.
ﯳﯴﯵﯶﯷ
“Quả thật, đám dân (Israel) này chỉ là một nhóm nhỏ bé.”
ﯸﯹﯺﯻ
“Chúng thực sự đã phạm tội khi quân vì đã chọc giận ta.”
ﯼﯽﯾﯿ
“Nhưng ta đã luôn cảnh giác đề phòng chúng.”
ﰀﰁﰂﰃﰄ
Bởi thế, TA (Allah) đã tống bọn chúng (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) ra khỏi hoa viên và suối nước.
ﰅﰆﰇﰈ
Khỏi những kho tàng châu báu và địa vị cao sang.
ﰉﰊﰋﰌﰍﰎ
Giống như thế, TA đã cho dân Israel thừa kế (những thứ tốt đẹp đó).
ﰏﰐﰑ
Rồi (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) truy đuổi họ (dân Israel) vào lúc hừng đông.
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖﭗﭘﭙ
Khi hai đoàn người đối diện nhau, các tông đồ của Musa nói: “Chắc chắn chúng ta sẽ bị đuổi kịp.”
ﭚﭛﭜﭝﭞﭟﭠﭡ
(Musa) bảo: “Không đâu, Thượng Đế của Ta luôn sát cánh bên Ta, Ngài sẽ hướng dẫn Ta thôi.”
ﭢﭣﭤﭥﭦﭧﭨﭩﭪﭫﭬﭭﭮﭯﭰ
Ngay lúc đó, TA mặc khải cho Musa, phán: “Ngươi hãy đánh cây gậy của Ngươi xuống mặt biển.” (Y làm theo), tức khắc biển tách ra làm đôi thành những tảng nước hai bên như hai ngọn núi khổng lồ.
ﭱﭲﭳﭴ
TA đẩy đám người kia (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) đến gần nơi đó.
ﭵﭶﭷﭸﭹﭺ
Và TA đã cứu nguy Musa và toàn bộ những ai theo Y.
ﭻﭼﭽﭾ
Rồi TA nhấn chìm đám người kia.
ﭿﮀﮁﮂﮃﮄﮅﮆﮇﮈ
Quả thật, trong sự việc đó là một bằng chứng (cho sự trung thực của Musa) nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
ﮉﮊﮋﮌﮍﮎ
Và Thượng Đế của Ngươi đích thực là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﮏﮐﮑﮒﮓ
Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) hãy đọc cho họ nghe về câu chuyện của Ibrahim.
ﮔﮕﮖﮗﮘﮙﮚ
Khi (Ibrahim) thưa với phụ thân và người dân của mình: “Các người đang thờ phượng gì thế kia?”
ﮛﮜﮝﮞﮟﮠﮡ
Họ đáp: “Bọn ta đang thờ các bục tượng, bọn ta rất sùng kính các thần linh này.”
ﮢﮣﮤﮥﮦﮧ
(Ibrahim) hỏi: “Các bục tượng đó có nghe được các người khi các người cầu xin chúng không?”
ﮨﮩﮪﮫﮬ
“Hoặc chúng có giúp ích hay hãm hại được các người không?”
ﮭﮮﮯﮰﮱﯓﯔ
Họ đáp: “Không, nhưng bọn ta thấy cha mẹ của bọn ta đã làm như vậy.”
ﯕﯖﯗﯘﯙﯚ
(Ibrahim) bảo: “Những thứ mà các người đang tôn thờ”
ﯛﯜﯝﯞ
“Và cả những thứ mà tổ tiên xa xưa của các người đã tôn thờ”
ﯟﯠﯡﯢﯣﯤﯥ
“Đều là kẻ thù của Ta ngoại trừ Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
ﯦﯧﯨﯩﯪ
“Ngài là Đấng đã tạo ra Ta rồi hướng dẫn Ta.”
ﯫﯬﯭﯮﯯ
“Ngài là Đấng đã cho Ta ăn và cho Ta uống.”
ﯰﯱﯲﯳﯴ
“Khi Ta bệnh thì Ngài là Đấng cho Ta khỏi bệnh.”
ﯵﯶﯷﯸﯹ
“Ngài là Đấng làm cho Ta chết rồi làm cho Ta sống lại.”
ﯺﯻﯼﯽﯾﯿﰀﰁﰂ
“Ngài là Đấng mà Ta hy vọng sẽ được tha thứ về những tội lỗi của Ta vào Ngày Phán Xét.”
ﰃﰄﰅﰆﰇﰈﰉ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài ban cho bề tôi sự khôn ngoan và xin Ngài nhập bề tôi cùng với những người đức hạnh.”
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖﭗ
“Xin Ngài vinh danh bề tôi trên chiếc lưỡi của những thế hệ mai sau.”
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
“Xin Ngài làm cho bề tôi thành một người thừa kế Thiên Đàng Hạnh phúc.”
ﭞﭟﭠﭡﭢﭣﭤ
“Xin Ngài tha thứ cho phụ thân của bề tôi bởi ông ấy là một người lầm lạc.”
ﭥﭦﭧﭨﭩ
“Xin Ngài đừng hạ nhục bề tôi vào Ngày nhân loại được phục sinh.”
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯﭰ
“Đó là Ngày mà của cải cũng như con cái sẽ không giúp ích được gì.”
ﭱﭲﭳﭴﭵﭶﭷ
“Ngoại trừ những ai đến với Allah bằng một tấm lòng trong sạch.”
ﭸﭹﭺﭻ
Thiên Đàng sẽ được mang đến gần những người ngoan đạo.
ﭼﭽﭾﭿ
Hỏa Ngục sẽ được mang đến trước mặt những kẻ lầm lạc.
ﮀﮁﮂﮃﮄﮅﮆ
Có lời bảo họ: “Đâu là những thứ mà các ngươi đã tôn thờ”
ﮇﮈﮉﮊﮋﮌﮍﮎ
“Thay vì Allah? Liệu chúng có khả năng giải cứu các ngươi hoặc tự cứu lấy bản thân chúng được không?”
ﮏﮐﮑﮒﮓ
Bởi thế, chúng cùng với đám quỷ quái sẽ bị lùa vào Hỏa Ngục.
ﮔﮕﮖﮗ
Và toàn bộ binh tướng của Iblis cũng thế.
ﮘﮙﮚﮛﮜ
Và trong lúc cãi vã nhau trong (Hỏa Ngục), họ sẽ nói:
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢﮣ
“Thề với Allah, chúng tôi rõ ràng là nhóm người lầm lạc.”
ﮤﮥﮦﮧﮨ
“Khi mà chúng tôi đã suy tôn các ngươi ngang vai với Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
ﮩﮪﮫﮬﮭ
“Và chỉ những tên tội lỗi mới dắt chúng tôi đi lạc.”
ﮮﮯﮰﮱﯓ
“Thế là chúng tôi chẳng có ai can thiệp.”
ﯔﯕﯖﯗ
“Chúng tôi cũng chẳng có một người bạn chân tình nào cả.”
ﯘﯙﯚﯛﯜﯝﯞﯟ
“Nếu có cơ hội trở lại (trần thế) lần nữa thì chúng tôi sẽ là những người có đức tin.”
ﯠﯡﯢﯣﯤﯥﯦﯧﯨﯩ
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
ﯪﯫﯬﯭﯮﯯ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﯰﯱﯲﯳﯴ
Người dân của Nuh đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
ﯵﯶﯷﯸﯹﯺﯻﯼ
Khi Nuh, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
ﯽﯾﯿﰀﰁ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
ﰂﰃﰄﰅ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
ﰆﰇﰈﰉﰊﰋﰌﰍﰎﰏﰐﰑﰒ
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật sẽ ân thưởng cho Ta.”
ﰓﰔﰕﰖ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
ﰗﰘﰙﰚﰛﰜﰝ
Họ (đáp lại lời kêu gọi của Nuh), nói : “Lẽ nào bọn ta lại phải tin ngươi trong khi những kẻ đi theo ngươi toàn là những tên bần cùng?!”
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖﭗ
(Nuh) bảo: “Ta không biết điều họ đã từng làm.”(1)
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝﭞﭟﭠ
“Việc phán xét họ là ở thẩm quyền nơi Thượng Đế của Ta, nếu các người cảm nhận được.”
ﭡﭢﭣﭤﭥ
“Ta không có quyền xua đuổi những người có đức tin.”
ﭦﭧﭨﭩﭪﭫ
“Quả thật Ta chỉ là một người cảnh báo công khai mà thôi.”
ﭬﭭﭮﭯﭰﭱﭲﭳﭴ
Họ (dọa Nuh), bảo: “Này Nuh, nếu ngươi không chịu dừng lại, bọn ta sẽ ném đá giết chết ngươi.”
ﭵﭶﭷﭸﭹﭺ
Nuh cầu nguyện: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, đám dân của bề tôi đã phủ nhận bề tôi.”
ﭻﭼﭽﭾﭿﮀﮁﮂﮃﮄ
“Xin Ngài mở lối giữa bề tôi và họ, xin Ngài giải cứu bề tôi và những người có đức tin đã đi theo bề tôi.”
ﮅﮆﮇﮈﮉﮊﮋ
Thế là TA đã giải cứu (Nuh) và những ai đi theo Y trên một chiếc tàu đầy ắp.
ﮌﮍﮎﮏﮐ
Rồi TA nhấn chìm toàn bộ đám người còn lại (trong biển nước của trận đại hồng thủy).
ﮑﮒﮓﮔﮕﮖﮗﮘﮙﮚ
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (làm bài học cho những ai phủ nhận Thiên Sứ của Allah), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
ﮛﮜﮝﮞﮟﮠ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﮡﮢﮣﮤ
Người dân ‘Ad đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
ﮥﮦﮧﮨﮩﮪﮫﮬ
Khi Hud, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
ﮭﮮﮯﮰﮱ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
ﯓﯔﯕﯖ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
ﯗﯘﯙﯚﯛﯜﯝﯞﯟﯠﯡﯢﯣ
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
ﯤﯥﯦﯧﯨﯩ
“Phải chăng các người đã xây cất trên cao (những ngôi nhà kiên cố) để khoe khoang ư?”
ﯪﯫﯬﯭﯮ
“Lẽ nào các người xây cất những lâu đài kiên cố để mong ở trong đó vĩnh viễn?”
ﯯﯰﯱﯲﯳ
“Và khi các người đàn áp, các người đàn áp như những bạo chúa.”
ﯴﯵﯶﯷ
“Các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
ﯸﯹﯺﯻﯼﯽ
“Các người hãy sợ Đấng đã trợ giúp các người biết bao thiên ân mà các người biết.”
ﯾﯿﰀﰁ
“Ngài đã ban cho các người gia súc và con cái.”
ﰂﰃﰄ
“(Ngài đã ban cho các người) vườn tược và suối nước.”
ﰅﰆﰇﰈﰉﰊﰋ
“Ta thật sự lo sợ cho các người về sự trừng phạt của một Ngày Vĩ Đại.”
ﰌﰍﰎﰏﰐﰑﰒﰓﰔﰕ
(Đám dân của Hud đáp lại lời kêu gọi của Y), nói: “Dù ngươi có cảnh báo hay không cảnh báo, điều đó cũng bằng thừa đối với bọn ta mà thôi.”
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
“Đây đúng là phong cách và lối suy nghĩ của người xưa.”
ﭗﭘﭙﭚ
“Và bọn ta chắc chắn sẽ không bị trừng phạt.”
ﭛﭜﭝﭞﭟﭠﭡﭢﭣﭤﭥﭦﭧ
Thế là họ chối bỏ Y nên đã bị tiêu diệt. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
ﭨﭩﭪﭫﭬﭭ
Quả thật Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﭮﭯﭰﭱ
Người dân Thamud đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
ﭲﭳﭴﭵﭶﭷﭸﭹ
Khi Saleh, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
ﭺﭻﭼﭽﭾ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
ﭿﮀﮁﮂ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
ﮃﮄﮅﮆﮇﮈﮉﮊﮋﮌﮍﮎﮏ
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật sẽ ân thưởng cho Ta.”
ﮐﮑﮒﮓﮔﮕ
“Lẽ nào các người sẽ được an toàn hưởng thụ những tiện nghi hiện có nơi đây?”
ﮖﮗﮘﮙ
“Trong những ngôi vườn và suối nước?”
ﮚﮛﮜﮝﮞ
“Với những nương rẫy và vườn chà là kết trái chín mộng?”
ﮟﮠﮡﮢﮣﮤ
“Và các người giỏi đục núi xây nhà kiêng cố.”
ﮥﮦﮧﮨ
“Các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
ﮩﮪﮫﮬﮭ
“Các người chớ nghe theo mệnh lệnh của những kẻ thái quá.”
ﮮﮯﮰﮱﯓﯔﯕ
“Họ là những kẻ làm điều xấu xa và tội lỗi khắp nơi nhưng không chịu sửa mình.”
ﯖﯗﯘﯙﯚﯛ
(Đám dân của Saleh đáp lại lời kêu gọi của Y), nói: “Ngươi đúng là đã bị trúng tà.”
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡﯢﯣﯤﯥﯦﯧ
“Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một người phàm như bọn ta. Nhưng nếu ngươi nói thật thì ngươi hãy mang ra cho bọn ta thứ gì đó chứng minh xem nào.”
ﯨﯩﯪﯫﯬﯭﯮﯯﯰﯱ
(Saleh) bảo họ: “Đây là con lạc đà cái (mà Allah đã mang nó ra từ tảng đá), nó sẽ uống phần nước của nó và các người sẽ uống phần nước của các người vào ngày được ấn định.”
ﯲﯳﯴﯵﯶﯷﯸﯹ
“Các người không được làm hại đến nó, nếu không các người sẽ bị trừng phạt vào một Ngày Vĩ Đại.”
ﯺﯻﯼﯽ
Nhưng rồi họ đã đâm cổ nó và tỏ ra hối hận sau đó.
ﯾﯿﰀﰁﰂﰃﰄﰅﰆﰇﰈﰉﰊ
Thế là họ đã bị hình phạt túm lấy. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
ﰋﰌﰍﰎﰏﰐ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﭑﭒﭓﭔﭕ
Người dân của Lut đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
ﭖﭗﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
Khi Lut, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
ﭞﭟﭠﭡﭢ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
ﭣﭤﭥﭦ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
ﭧﭨﭩﭪﭫﭬﭭﭮﭯﭰﭱﭲﭳ
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật sẽ ân thưởng cho Ta.”
ﭴﭵﭶﭷﭸ
“Sao các người lại tìm đến đàn ông trong vũ trụ này để thỏa mãn tình dục,”
ﭹﭺﭻﭼﭽﭾﭿﮀﮁﮂﮃﮄﮅ
“Và bỏ rơi những người mà Thượng Đế của các người đã tạo ra cho các người để làm vợ? Không, các người thực sự là những kẻ thái quá.”
ﮆﮇﮈﮉﮊﮋﮌﮍﮎ
(Đám dân của Lut dọa Y), bảo: “Này Lut, nếu ngươi không chịu dừng lại, bọn ta sẽ trục xuất ngươi ra khỏi xứ.”
ﮏﮐﮑﮒﮓﮔ
(Lut) nói với họ: “Ta là một người căm ghét việc làm của các người.”
ﮕﮖﮗﮘﮙﮚ
(Lut cầu nguyện): “Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài giải cứu bề tôi và gia đình của bề tôi thoát khỏi hành vi xấu của họ.”
ﮛﮜﮝﮞ
Thế là TA (Allah) đã giải cứu Lut và toàn bộ gia đình của Y.
ﮟﮠﮡﮢﮣ
Trừ vợ của Y (là kẻ vô đức tin), nữ ta sẽ ở cùng đám người bị trừng phạt.
ﮤﮥﮦﮧ
Sau đó TA đã tiêu diệt toàn bộ đám người còn lại.
ﮨﮩﮪﮫﮬﮭﮮﮯ
TA đã trừng phạt họ bằng một trận mưa khủng khiếp; đúng là một trận mưa kinh hoàng cho đám người được cảnh báo trước.
ﮰﮱﯓﯔﯕﯖﯗﯘﯙﯚ
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
ﯛﯜﯝﯞﯟﯠ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﯡﯢﯣﯤﯥ
Dân chúng Aikah (một khu rừng gần địa phận Madyan) đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (Allah).
ﯦﯧﯨﯩﯪﯫﯬ
Khi Shu’aib bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
ﯭﯮﯯﯰﯱ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
ﯲﯳﯴﯵ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
ﯶﯷﯸﯹﯺﯻﯼﯽﯾﯿﰀﰁﰂ
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
ﰃﰄﰅﰆﰇﰈﰉﰊ
“Các người hãy đong cho đủ, chớ là những kẻ làm cho người khác mất mát (gian lận, đong không đủ khi bán).”
ﰋﰌﰍﰎ
“Và khi cân các người hãy để cho bàn cân được ngay thẳng.”
ﰏﰐﰑﰒﰓﰔﰕﰖﰗﰘ
“Các người chớ gian lận thiên hạ bằng cách cân thiếu và cũng chớ đi khắp trái đất để gieo rắc tội lỗi.”
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
“Các người hãy sợ Allah, Đấng đã tạo hóa các người và những thế hệ trước.”
ﭗﭘﭙﭚﭛﭜ
(Đám dân Aikah đáp lại lời kêu gọi của Shu’aib), nói : “Quả thật, ngươi đã bị trúng tà.”
ﭝﭞﭟﭠﭡﭢﭣﭤﭥﭦ
“Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một người phàm như bọn ta và bọn ta nghĩ ngươi là tên nói dối.”
ﭧﭨﭩﭪﭫﭬﭭﭮﭯﭰ
“Nhưng nếu ngươi nói thật thì ngươi hãy khiến cho một phần của bầu trời rơi xuống đè bọn ta thử xem nào.”
ﭱﭲﭳﭴﭵﭶ
(Shu’aib) nói với họ: “Thượng Đế của Ta, Ngài biết rõ điều mà các người làm.”
ﭷﭸﭹﭺﭻﭼﭽﭾﭿﮀﮁﮂ
Họ đã phủ nhận (Shu’aib). Cho nên, họ đã bị hình phạt túm lấy vào một ngày tối trời, đó là sự trừng phạt của một Ngày Vĩ Đại.
ﮃﮄﮅﮆﮇﮈﮉﮊﮋﮌ
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
ﮍﮎﮏﮐﮑﮒ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﮓﮔﮕﮖﮗ
Quả thật, Nó (Qur’an) đích thực được Thượng Đế của vũ trụ ban xuống.
ﮘﮙﮚﮛﮜ
Do Ruh (đại Thiên Thần Jibril) đáng tin mang Nó xuống.
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢ
Đặt vào con tim của Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) để Ngươi trở thành một Người cảnh báo.
ﮣﮤﮥﮦ
Bằng tiếng Ả-rập rõ ràng.
ﮧﮨﮩﮪﮫ
Nó quả thật đã được nhắc đến trong những Kinh Sách trước.
ﮬﮭﮮﮯﮰﮱﯓﯔﯕﯖ
Lẽ nào không có một dấu hiệu nào cho (những kẻ phủ nhận) trong khi các học giả của dân Israel biết rõ Nó?
ﯗﯘﯙﯚﯛﯜ
Nếu TA thực sự đã thiên khải Nó xuống cho một số người không phải dân Ả-rập.
ﯝﯞﯟﯠﯡﯢﯣ
Rồi y đọc lại cho họ nghe thì chắc rằng họ đã không tin vào Nó.
ﯤﯥﯦﯧﯨﯩ
Bằng cách đó, TA đã làm nó (sự vô đức tin) thấm nhuần vào tim của những kẻ tội lỗi.
ﯪﯫﯬﯭﯮﯯﯰﯱ
Họ sẽ không tin tưởng Nó cho đến khi họ thấy được sự trừng phạt đau đớn.
ﯲﯳﯴﯵﯶﯷ
Nó sẽ bất ngờ túm lấy họ trong lúc họ không hay biết.
ﯸﯹﯺﯻﯼ
Lúc đó họ sẽ nói: “Chúng tôi có được gia hạn thêm không?”
ﯽﯾﯿ
Vậy sao họ lại hối thúc hình phạt mau đến?
ﰀﰁﰂﰃﰄ
Há Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) có nhận thấy rằng việc TA cho họ hưởng lạc thêm nhiều năm nữa,
ﰅﰆﰇﰈﰉﰊ
Rồi sau đó, hình phạt đã được hứa mới đến chụp bắt họ,
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖﭗ
Thì việc hưởng thụ đó chẳng giúp ích gì cho họ cả?
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝﭞﭟ
TA đã không tiêu diệt bất cứ ngôi làng nào ngoại trừ đã có những người đến cảnh báo nó.
ﭠﭡﭢﭣﭤ
Như một sự nhắc nhở (đến cư dân của nó) bởi lẽ TA không hề bất công.
ﭥﭦﭧﭨﭩ
(Qur’an) không phải do những tên Shaytan mang xuống.
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯ
Việc làm này không thích hợp cho chúng và chúng cũng không có khả năng (cho việc này).
ﭰﭱﭲﭳﭴ
Quả thật chúng đã bị đuổi ra xa không được cho nghe (Qur’an).
ﭵﭶﭷﭸﭹﭺﭻﭼﭽﭾ
Do đó, Ngươi chớ cầu nguyện bất cứ thần linh nào khác cùng với Allah, nếu không Ngươi sẽ cùng nhóm với đám người bị trừng phạt.
ﭿﮀﮁﮂ
Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) hãy cảnh báo họ hàng thân tộc của Ngươi.
ﮃﮄﮅﮆﮇﮈﮉ
Ngươi hãy cư xử từ tốn và nhẹ nhàng với những người có đức tin theo Ngươi.
ﮊﮋﮌﮍﮎﮏﮐﮑ
Nếu họ bất tuân Ngươi thì Ngươi hãy nói: “Ta vô can với những điều các người làm.”
ﮒﮓﮔﮕﮖ
Ngươi hãy phó thác cho Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
ﮗﮘﮙﮚﮛ
Đấng mà Ngài nhìn thấy Ngươi khi Ngươi đứng lễ nguyện Salah.
ﮜﮝﮞﮟ
(Ngài nhìn thấy Ngươi) cả lúc Ngươi đổi động tác cúi xuống quỳ lạy.
ﮠﮡﮢﮣﮤ
Bởi Ngài đích thực là Đấng Hằng Nghe, Toàn Tri.
ﮥﮦﮧﮨﮩﮪﮫ
Các ngươi có muốn TA nói cho biết ai là kẻ mà lũ Shaytan thường xuống gặp không?
ﮬﮭﮮﮯﮰﮱ
(Shaytan) thường hay đến gặp những kẻ nói dối và tội lỗi.
ﯓﯔﯕﯖﯗ
Chúng nói lại những thứ nghe được nhưng đa phần là bịa đặt.(2)
ﯘﯙﯚﯛ
Và chỉ những kẻ lầm lạc mới nghe theo những tên thi sĩ.
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡﯢﯣ
Lẽ nào Ngươi không thấy họ lang thang vơ vẩn trong mỗi thung lũng để ngâm thơ hay sao?
ﯤﯥﯦﯧﯨﯩ
Quả thật, họ chỉ nói những điều họ không làm.
ﯪﯫﯬﯭﯮﯯﯰﯱﯲﯳﯴﯵﯶﯷﯸﯹﯺﯻﯼﯽﯾ
Ngoại trừ (những thi sĩ) có đức tin, làm việc thiện tốt, tụng niệm Allah nhiều và đã giành được thắng lợi sau khi đã bị đối xử bất công. Và những kẻ sai quấy sẽ sớm biết đâu là nơi mà mình sẽ phải quay về.

Kinh Qur'an


Tuesday, August 18, 2026

Đừng quên chúng tôi trong những lời cầu nguyện tốt lành của bạn