An-Nabiyyu awlaa bil mu`mineena min anfusihim wa azwaajuhoo ummahatuhum wa ulul arbaami ba`duhum awlaa biba`din fee Kitaabil laahi minal mu`meneena wal Muhaajireena illaaa an taf`alooo ilaaa awliyaaa`ikum ma`roofaa; kaana zaalika fil kitaabi mastooraa
📖 Bản Dịch (Ý Nghĩa Tiếng Việt)
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Nabi (Muhammad) phải được quí mến đối với những người có đức tin hơn cả bản thân họ, và các bà vợ của Y được xem là các bà mẹ của họ. (Theo sắc lệnh của Allah) trong Kinh Sách của Ngài thì bà con ruột thịt được ưu tiên đối với nhau (về việc hưởng gia tài thừa kế) hơn so với những người có đức tin và những người Muhajir (di cư từ Makkah đến Madinah), trừ trường hợp các ngươi làm một hành động tử tế đối với những người thân thiết nhất của các ngươi. Đó là mệnh lệnh được ghi trong Kinh Sách (Văn bản lưu trữ hay quyển Kinh Mẹ ở nơi Allah).
🌐 Additional reference in Melayu
🌐 Melayu
Nabi itu lebih menolong dan lebih menjaga kebaikan orang-orang yang beriman daripada diri mereka sendiri; dan isteri-isterinya adalah menjadi ibu mereka. Dan orang-orang yang mempunyai pertalian kerabat, setengahnya lebih berhak (mewarisi) akan setengahnya yang lain - menurut (hukum) Kitab Allah - daripada orang-orang yang beriman dan orang-orang Muhajirin (yang bukan kerabatnya), kecuali kalau kamu hendak berbuat baik kepada sahabat-sahabat karib kamu. Hukum yang demikian itu adalah tertulis dalam Kitab Allah.
أَوْلَىٰ بِالْمُؤْمِنِينَ مِنْ أَنفُسِهِمْ: Gần gũi và có quyền hơn đối với những người có đức tin so với chính bản thân họ.
أَزْوَاجُهُ: Những người vợ của Nabi ﷺ.
أُمَّهَاتُهُمْ: Là những người mẹ của họ (những người có đức tin).
أُولُو الْأَرْحَامِ: Những người có quan hệ huyết thống (họ hàng).
مَسْطُورًا: Được ghi chép, được viết sẵn.
Tafsir (giải thích) của Ayah:
Nabi Muhammad ﷺ có quyền và sự gần gũi đối với những người có đức tin hơn cả bản thân họ trong mọi vấn đề của tôn giáo và cuộc sống trần tục. Bất cứ điều gì Người ﷺ kêu gọi họ làm, họ phải ưu tiên tuân theo hơn cả những ham muốn của bản thân mình. Những người vợ của Nabi ﷺ được xem như là những người mẹ của tất cả những người có đức tin, điều này có nghĩa là họ phải được tôn kính và không ai được phép kết hôn với họ sau khi Nabi ﷺ qua đời. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ được phép nhìn ngắm hay ở riêng với những người đàn ông lạ, vì điều đó là Haram (bị cấm) đối với họ.
Về vấn đề thừa kế, những người có quan hệ huyết thống với nhau thì có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của Allah hơn là những người chỉ có mối quan hệ dựa trên đức tin và sự di cư (Hijrah). Trước đây, trong thời kỳ đầu của Islam, những người Muslim từng thừa kế tài sản của nhau dựa trên mối quan hệ đức tin và sự di cư, nhưng sau đó quy định này đã bị bãi bỏ và thay thế bằng quy định thừa kế dựa trên huyết thống. Tuy nhiên, các ngươi vẫn được phép làm điều tốt đối với những người bạn thân thiết của mình thông qua việc để lại di chúc, giúp đỡ, hoặc làm việc thiện. Quy định này đã được ghi chép sẵn trong Lawh Mahfuz (Bảng Bảo Tồn) và bắt buộc phải được thực thi.
Những bài học và lợi ích từ Ayah:
Ayah này dạy rằng tình yêu và sự tuân phục đối với Nabi Muhammad ﷺ phải đặt lên trên cả bản thân mình. Đây là một bài học sâu sắc về sự hy sinh và lòng trung thành trong Islam.
Những người vợ của Nabi ﷺ được tôn vinh như những người mẹ của tất cả những người có đức tin, điều này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc tôn kính và bảo vệ danh dự của họ.
Ayah này cũng khẳng định rằng Islam là một tôn giáo công bằng và có hệ thống, với các quy định rõ ràng về thừa kế và quyền lợi của các thành viên trong gia đình.
Cuối cùng, Ayah này khuyến khích chúng ta làm điều tốt và giúp đỡ những người xung quanh, ngay cả khi họ không thuộc diện thừa kế, thông qua việc để lại di chúc hoặc làm việc thiện. Điều này thể hiện tinh thần nhân ái và lòng tốt của Islam, khiến nó trở thành một tôn giáo đầy lòng thương xót và công bằng.
Nabi (Muhammad) phải được quí mến đối với những người có đức tin hơn cả bản thân họ, và các bà vợ của Y được xem là các bà mẹ của họ. (Theo sắc lệnh của Allah) trong Kinh Sách của Ngài thì bà con ruột thịt được ưu tiên đối với nhau (về việc hưởng gia tài thừa kế) hơn so với những người có đức tin và những người Muhajir (di cư từ Makkah đến Madinah), trừ trường hợp các ngươi làm một hành động tử tế đối với những người thân thiết nhất của các ngươi. Đó là mệnh lệnh được ghi trong Kinh Sách (Văn bản lưu trữ hay quyển Kinh Mẹ ở nơi Allah).
Allah không đặt hai quả tim vào trong lòng của một người đàn ông. Ngài không làm cho những người vợ mà các ngươi Zhihar(1) với họ thành mẹ ruột của các ngươi. Ngài cũng không làm cho con nuôi của các ngươi thành con ruột. Đó chỉ là lời nói thốt ra từ cửa miệng của các ngươi mà thôi, còn Allah thì nói sự thật và Ngài hướng dẫn đến con đường chân chính.
Các ngươi hãy gọi (con nuôi) theo tên cha ruột của chúng, đó là cách gọi công bằng nhất đối với Allah. Nhưng nếu các ngươi không biết cha của chúng là ai thì chúng là anh em đồng đạo của các ngươi và là người bảo hộ của nhau với các ngươi trong tôn giáo. Các ngươi không có tội nếu các ngươi nhầm lẫn trong việc xưng hô này, (các ngươi chỉ bị bắt tội về) điều mà các ngươi có chủ đích trong lòng mà thôi. Quả thật, Allah là Đấng Hằng Tha Thứ, Đấng Nhân Từ.
Nabi (Muhammad) phải được quí mến đối với những người có đức tin hơn cả bản thân họ, và các bà vợ của Y được xem là các bà mẹ của họ. (Theo sắc lệnh của Allah) trong Kinh Sách của Ngài thì bà con ruột thịt được ưu tiên đối với nhau (về việc hưởng gia tài thừa kế) hơn so với những người có đức tin và những người Muhajir (di cư từ Makkah đến Madinah), trừ trường hợp các ngươi làm một hành động tử tế đối với những người thân thiết nhất của các ngươi. Đó là mệnh lệnh được ghi trong Kinh Sách (Văn bản lưu trữ hay quyển Kinh Mẹ ở nơi Allah).
Ngươi (hỡi Thiên Sứ, hãy nhớ lại) khi TA (Allah) giao ước với các vị Nabi và với Ngươi, với Nuh, với Ibrahim, với Musa và với Ysa con trai của Maryam, TA đã giao ước bằng cuộc giao ước trịnh trọng.
Để Ngài hỏi những người chân thật (các vị Nabi, các vị Thiên Sứ) về sự trung thực của họ (trong việc rao truyền Bức Thông Điệp của Allah) và Ngài đã chuẩn bị cho những kẻ vô đức tin một sự trừng phạt đau đớn.
Surah Al-Ahzab Câu Kinh 6 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Nabi (Muhammad) phải được quí mến đối với những người…
Surah Câu Kinh 6/73 — Surah Al-Ahzab الأحزاب (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Al-Ahzab Nghe, Surah Al-Ahzab Bản Dịch, Surah Al-Ahzab mp3, Surah Al-Ahzab pdf. Câu Kinh 4–8. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.
Trang web SurahQuran được thành lập như một nỗ lực khiêm tốn để phụng sự Kinh Sách cao quý và Sunnah thuần khiết, mời gọi đến với Allah và tạo điều kiện cho các khoa học tôn giáo theo đường lối của Kinh Qur'an và Sunnah. Chúng tôi ca ngợi và tạ ơn Allah vì ân huệ của Ngài, và cầu xin Ngài chấp nhận việc làm của chúng tôi và làm cho chúng thành thật vì gương mặt cao quý của Ngài.