Qul laaa ajidu fee maaa oohiya ilaiya muharraman `alaa taa`iminy yat`amuhooo illaaa ai yakoona maitatan aw damam masfoohan aw lahma khinzeerin fa innahoo rijsun aw fisqan uhilla lighairil laahi bih; famanid turra ghaira baa ghinw wa laa `aadin fa inna Rabbaka Ghafoorur Raheem
📖 Bản Dịch (Ý Nghĩa Tiếng Việt)
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy nói: “Ta không thấy trong những điều được mặc khải cho Ta có khoản nào cấm (tín đồ Muslim) ăn ngoại trừ động vật chết; hoặc máu tuôn ra (khỏi cơ thể con vật), hoặc thịt heo (lợn) vì nó là loài vật ô uế, không sạch; hoặc những con vật được dâng cúng (các thần linh) ngoài Allah.” Tuy nhiên, ai rơi vào tình huống bất đắc dĩ phải ăn (những món cấm đó) ngoài ý muốn và không quá độ thì quả thật, Thượng Đế của Ngươi hằng tha thứ, hằng khoan dung.
🌐 Additional reference in Melayu
🌐 Melayu
Katakanlah (wahai Muhammad): "Aku tidak dapati dalam apa yang telah diwahyukan kepadaku, sesuatu yang diharamkan bagi orang yang hendak memakannya melainkan kalau benda itu bangkai, atau darah yang mengalir, atau daging babi - kerana sesungguhnya ia adalah kotor - atau sesuatu yang dilakukan secara fasik, iaitu binatang yang disembelih atas nama yang lain dari Allah". Kemudian sesiapa yang terpaksa (memakannya kerana darurat) sedang ia tidak mengingininya dan tidak melampaui batas, maka sesungguhnya Tuhan mu Maha Pengampun, lagi Maha Mengasihani.
مَيْتَةً: xác chết (động vật chết mà không được giết theo luật Islam).
دَمًا مَّسْفُوحًا: máu chảy ra (máu đổ tràn ra ngoài).
لَحْمَ خِنزِيرٍ: thịt heo.
رِجْسٌ: ô uế, bẩn thỉu (điều ghê tởm và bị cấm).
فِسْقًا: sự bất tuân, tội lỗi (ở đây chỉ con vật bị giết nhân danh ai đó ngoài Allah).
أُهِلَّ لِغَيْرِ اللَّهِ بِهِ: được cúng tế hoặc giết nhân danh người khác ngoài Allah.
اضْطُرَّ: bị buộc phải (do hoàn cảnh khẩn cấp như đói quá mức).
بَاغٍ: kẻ tìm kiếm sự thỏa mãn (ăn vì thèm muốn chứ không vì cần thiết).
عَادٍ: kẻ vượt quá giới hạn (ăn nhiều hơn mức cần thiết để duy trì sự sống).
Giải thích ý nghĩa của câu Kinh:
Hỡi Thiên Sứ Muhammad, hãy nói với những kẻ đã bịa đặt ra các điều cấm đoán không có căn cứ: Ta không tìm thấy trong những gì Allah đã mặc khải cho ta bất kỳ điều gì bị cấm ăn, ngoại trừ bốn thứ sau: (1) xác chết của động vật không được giết theo luật Islam, (2) máu chảy ra ngoài, (3) thịt heo – vì đó là thứ ô uế và bẩn thỉu, (4) con vật bị giết nhân danh ai đó ngoài Allah, tức là phạm tội bất tuân và lệch lạc. Tuy nhiên, nếu một người bị buộc phải ăn những thứ bị cấm này do đói khát cùng cực, không phải vì thèm muốn hay cố tình vượt quá giới hạn cần thiết để duy trì sự sống, thì người đó không bị tội. Quả thật, Thượng Đế của ngươi – hỡi Thiên Sứ – là Đấng Hằng Tha Thứ, Đấng Rất Mực Khoan Dung, Ngài tha thứ cho người bị buộc phải ăn và thương xót họ.
Những bài học và lợi ích rút ra từ câu Kinh:
Islam là tôn giáo dựa trên mặc khải và bằng chứng rõ ràng, không dựa trên những lời bịa đặt hay truyền thống vô căn cứ. Điều này cho thấy tính minh bạch và logic của luật Islam.
Allah chỉ cấm những gì thực sự gây hại cho con người về thể xác và tâm hồn, như máu, thịt heo, xác chết – những thứ mang mầm bệnh và sự ô uế.
Islam luôn mở ra con đường dễ dàng trong trường hợp khẩn cấp. Allah không bắt con người phải chịu đựng đến chết đói khi không có thức ăn halal. Đây là biểu hiện của lòng thương xót vô biên.
Việc giết động vật phải nhân danh Allah thể hiện sự tôn nghiêm và lòng biết ơn đối với Đấng Tạo Hóa, đồng thời tránh xa mọi hình thức thờ phượng sai lầm.
Câu Kinh nhắc nhở rằng Allah là Đấng Hằng Tha Thứ và Rất Mực Khoan Dung, luôn chấp nhận sự yếu đuối của con người khi họ thành tâm quay về với Ngài.
Những điều này khiến trái tim người tin càng thêm yêu mến Islam, vì thấy được sự cân bằng giữa luật lệ nghiêm minh và lòng nhân từ bao la của Đấng Tạo Hóa.
Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy nói: “Ta không thấy trong những điều được mặc khải cho Ta có khoản nào cấm (tín đồ Muslim) ăn ngoại trừ động vật chết; hoặc máu tuôn ra (khỏi cơ thể con vật), hoặc thịt heo (lợn) vì nó là loài vật ô uế, không sạch; hoặc những con vật được dâng cúng (các thần linh) ngoài Allah.” Tuy nhiên, ai rơi vào tình huống bất đắc dĩ phải ăn (những món cấm đó) ngoài ý muốn và không quá độ thì quả thật, Thượng Đế của Ngươi hằng tha thứ, hằng khoan dung.
(Allah đã tạo ra cho các ngươi) tám loại thú nuôi gồm đực cái, cừu hai con đực cái và dê hai con đực cái. Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy hỏi (những kẻ đa thần): “(Allah) cấm ăn hai con đực hay hai con cái hoặc Ngài cấm luôn cả (con đực và cái) nằm trong bụng hai con cái? Các ngươi hãy nói cho Ta biết bằng kiến thức đúng thật nếu các ngươi là người chân thật.”
Và lạc đà hai con đực cái và bò hai con đực cái. Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy hỏi (những kẻ đa thần): “(Allah) cấm ăn hai con đực hay hai con cái hoặc Ngài cấm luôn cả (con đực và cái) nằm trong bụng hai con cái? Hoặc lẽ nào chính các ngươi là những kẻ tận mắt chứng kiến Allah ban hành lệnh cấm này sao? Vậy còn ai sai quấy hơn kẻ đã đặt điều dối trá rồi gán cho Allah hầu kéo thiên hạ đi lạc một cách thiếu hiểu biết. Chắc chắn Allah không bao giờ hướng dẫn đám người sai quấy.
Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy nói: “Ta không thấy trong những điều được mặc khải cho Ta có khoản nào cấm (tín đồ Muslim) ăn ngoại trừ động vật chết; hoặc máu tuôn ra (khỏi cơ thể con vật), hoặc thịt heo (lợn) vì nó là loài vật ô uế, không sạch; hoặc những con vật được dâng cúng (các thần linh) ngoài Allah.” Tuy nhiên, ai rơi vào tình huống bất đắc dĩ phải ăn (những món cấm đó) ngoài ý muốn và không quá độ thì quả thật, Thượng Đế của Ngươi hằng tha thứ, hằng khoan dung.
Đối với những người Do Thái, TA đã cấm ăn tất cả động vật có móng (liền nhau như lạc đà, đà điểu) và TA cấm họ dùng mỡ bò, mỡ cừu và dê ngoại trừ mỡ dính ở lưng hoặc ở ruột hoặc mỡ dính ở xương. Đó là hình phạt TA dành cho họ bởi hành vi sai trái mà họ đã làm. Quả thật, TA luôn nói sự thật.
Nếu như họ phủ nhận Ngươi (hỡi Thiên Sứ) thì Ngươi hãy nói: “Thượng Đế của các ngươi có lòng thương xót bao la. Tuy nhiên, đám người tội lỗi sẽ không thể tránh khỏi sự trừng phạt của Ngài.”
Surah Al-An'am Câu Kinh 145 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy nói: “Ta không thấy trong…
Surah Câu Kinh 145/165 — Surah Al-An'am الأنعام (Meccan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Al-An'am Nghe, Surah Al-An'am Bản Dịch, Surah Al-An'am mp3, Surah Al-An'am pdf. Câu Kinh 143–147. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.
Trang web SurahQuran được thành lập như một nỗ lực khiêm tốn để phụng sự Kinh Sách cao quý và Sunnah thuần khiết, mời gọi đến với Allah và tạo điều kiện cho các khoa học tôn giáo theo đường lối của Kinh Qur'an và Sunnah. Chúng tôi ca ngợi và tạ ơn Allah vì ân huệ của Ngài, và cầu xin Ngài chấp nhận việc làm của chúng tôi và làm cho chúng thành thật vì gương mặt cao quý của Ngài.