Al-Hujurat · 11/18
Bản Dịch Phiên Âm — Surah Al-Hujurat
يَا أَيُّهَا الَّذِينَ آمَنُوا لَا يَسْخَرْ قَوْمٌ مِّن قَوْمٍ عَسَىٰ أَن يَكُونُوا خَيْرًا مِّنْهُمْ وَلَا نِسَاءٌ مِّن نِّسَاءٍ عَسَىٰ أَن يَكُنَّ خَيْرًا مِّنْهُنَّ ۖ وَلَا تَلْمِزُوا أَنفُسَكُمْ وَلَا تَنَابَزُوا بِالْأَلْقَابِ ۖ بِئْسَ الِاسْمُ الْفُسُوقُ بَعْدَ الْإِيمَانِ ۚ وَمَن لَّمْ يَتُبْ فَأُولَٰئِكَ هُمُ الظَّالِمُونَ ۝١١
Yaaa ayyuhal lazeena aamanoo laa yaskhar qawmum min qawmin `asaaa anyyakoonoo khairam minhum wa laa nisaaa`um min nisaaa`in `Asaaa ay yakunna khairam minhunna wa laa talmizooo bil alqaab; bi`sal ismul fusooqu ba`dal eemaan; wa mal-lam yatub fa-ulaaa`ika humuz zaalimoon
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Hỡi những người có đức tin! Nhóm người này chớ nên cười nhạo nhóm người kia bởi biết đâu nhóm người kia tốt hơn nhóm người này. Và nhóm phụ nữ này chớ nên cười nhạo nhóm phụ nữ kia bởi biết đâu nhóm phụ nữ kia tốt hơn nhóm phụ nữ này. Các ngươi đừng xúc phạm nhau và đừng gọi nhau bằng những biệt danh (mục đích nhạo báng và chế giễu). (Quả thật,) việc bêu tên xấu của một người sau khi y đã có đức tin là một hành động bất tuân (Allah). Và ai không sám hối thì đó là những kẻ làm điều sai quấy.

M Mishary Rashid Alafasy ✓
M Mahmoud Khalil Al-Husary ✓
A Abdurrahman As-Sudais ✓
M Mohamed Siddiq Al-Minshawi ✓
A Abdul Basit Abdul Samad ✓
A Ali Al-Hudhaify ✓
A Ahmed ibn Ali al-Ajamy ✓
A Abu Bakr Ash-Shaatree ✓
M Muhammad Ayyoub ✓
A Abdullah Basfar ✓
A Abdullah Al-Juhani ✓
M Maher Al Muaiqly ✓
0:00
0:00
📜

Bản Dịch — Tafsir

  1. Giải thích các từ ngữ cần làm rõ trong câu Kinh:
  • يسخر: chế giễu, nhạo báng, cười nhạo người khác.
  • قوم: một nhóm người, ở đây thường hiểu là một nhóm đàn ông.
  • عسى: có lẽ, biết đâu, hàm ý khả năng có thể xảy ra.
  • تلمزوا: các ngươi chê bai, chỉ trích, bắt lỗi nhau bằng lời nói hoặc cử chỉ.
  • تنابزوا بالألقاب: các ngươi gọi nhau bằng những biệt danh xấu mà người ta ghét.
  • الفسوق: sự sa ngã, sự rời khỏi sự vâng lời, ở đây chỉ sự chế giễu, chê bai và gọi nhau bằng biệt danh xấu.
  • الظالمون: những kẻ bất công, tự làm hại bản thân bằng tội lỗi.
  1. Nội dung giải thích câu Kinh:

Hỡi những người đã tin nơi Allah và làm theo điều Ngài ban hành, các ngươi chớ để một nhóm người trong các ngươi chế giễu, nhạo báng một nhóm người khác. Biết đâu những người bị chế giễu lại tốt hơn trước Allah so với những người đi chế giễu; bởi thước đo thật sự là điều ở nơi Allah, không phải vẻ bề ngoài hay địa vị trần gian. Phụ nữ cũng vậy, chớ để nhóm phụ nữ này chế giễu nhóm phụ nữ khác, vì biết đâu những người bị chế giễu lại tốt hơn họ trước Allah.

Các ngươi cũng chớ chê bai, bắt lỗi nhau, vì những người có đức tin là anh em, cùng thuộc một cộng đồng, nên xúc phạm người khác cũng giống như tự xúc phạm chính mình. Các ngươi chớ gọi nhau bằng những biệt danh xấu mà người ta không thích, như cách một số người từng làm trước khi ánh sáng của đạo Islam đến. Ai làm những điều đó thì đã mang danh hiệu xấu là sự sa ngã sau khi đã có đức tin. Thật tồi tệ thay khi một người được nhắc đến bằng sự sa ngã, tội lỗi sau khi đã bước vào đức tin và được biết đến với đức tin ấy. Và ai không ăn năn, không từ bỏ những điều bị cấm như chế giễu, chê bai, gọi nhau bằng biệt danh xấu, thì những người đó chính là những kẻ bất công, tự đẩy mình vào con đường hủy diệt vì những tội lỗi mình đã làm.

  1. Những bài học và lợi ích để khuyến khích con người yêu mến Islam và Kinh Qur’an:
  • Câu Kinh dạy người có đức tin giữ gìn phẩm giá và danh dự của nhau, xem mọi tín hữu như anh em trong một cộng đồng.
  • Islam không đánh giá con người qua vẻ ngoài, giới tính, địa vị hay sự giàu nghèo, mà qua lòng kính sợ Allah và việc làm tốt.
  • Việc chế giễu, chê bai hay gọi nhau bằng biệt danh xấu là những hành vi có thể phá hủy tình đoàn kết và gieo rắc hận thù, nên người có đức tin được khuyến khích tránh xa.
  • Câu Kinh mở ra cánh cửa ăn năn: ai lỡ phạm sai lầm thì hãy quay về với Allah, sửa đổi bản thân và tôn trọng người khác.
  • Đây là minh chứng cho sự hoàn hảo và lòng nhân từ của Kinh Qur’an, khi không chỉ cấm điều xấu mà còn hướng con người đến lời nói đẹp, cách cư xử tốt và tình yêu thương trong cộng đồng đức tin.


📜 Câu Kinh 9-13 — Surah Al-Hujurat

9وَإِن طَائِفَتَانِ مِنَ الْمُؤْمِنِينَ اقْتَتَلُوا فَأَصْلِحُوا بَيْنَهُمَا ۖ فَإِن بَغَتْ إِحْدَاهُمَا عَلَى الْأُخْرَىٰ فَقَاتِلُوا الَّتِي تَبْغِي حَتَّىٰ تَفِيءَ إِلَىٰ أَمْرِ اللَّهِ ۚ فَإِن فَاءَتْ فَأَصْلِحُوا بَيْنَهُمَا بِالْعَدْلِ وَأَقْسِطُوا ۖ إِنَّ اللَّهَ يُحِبُّ الْمُقْسِطِينَ
Nếu trong số những người có đức tin có hai nhóm giao chiến với nhau thì các ngươi hãy giải hòa giữa đôi bên. Nhưng nếu nhóm này đàn áp nhóm kia thì các ngươi hãy chiến đấu chống lại nhóm đàn áp cho đến khi họ chịu quay về với Mệnh Lệnh của Allah. Và nếu họ đã chịu quay về thì các ngươi hãy giải hòa giữa đôi bên một cách công bằng và vô tư. Quả thật, Allah yêu thương những người hành động công bằng, vô tư.
10إِنَّمَا الْمُؤْمِنُونَ إِخْوَةٌ فَأَصْلِحُوا بَيْنَ أَخَوَيْكُمْ ۚ وَاتَّقُوا اللَّهَ لَعَلَّكُمْ تُرْحَمُونَ
Quả thật chỉ những người có đức tin mới là anh em của nhau. Vì vậy, các ngươi hãy giải hòa giữa hai người anh em của mình. Các ngươi hãy sợ Allah mong rằng các ngươi được thương xót.
11يَا أَيُّهَا الَّذِينَ آمَنُوا لَا يَسْخَرْ قَوْمٌ مِّن قَوْمٍ عَسَىٰ أَن يَكُونُوا خَيْرًا مِّنْهُمْ وَلَا نِسَاءٌ مِّن نِّسَاءٍ عَسَىٰ أَن يَكُنَّ خَيْرًا مِّنْهُنَّ ۖ وَلَا تَلْمِزُوا أَنفُسَكُمْ وَلَا تَنَابَزُوا بِالْأَلْقَابِ ۖ بِئْسَ الِاسْمُ الْفُسُوقُ بَعْدَ الْإِيمَانِ ۚ وَمَن لَّمْ يَتُبْ فَأُولَٰئِكَ هُمُ الظَّالِمُونَ
Hỡi những người có đức tin! Nhóm người này chớ nên cười nhạo nhóm người kia bởi biết đâu nhóm người kia tốt hơn nhóm người này. Và nhóm phụ nữ này chớ nên cười nhạo nhóm phụ nữ kia bởi biết đâu nhóm phụ nữ kia tốt hơn nhóm phụ nữ này. Các ngươi đừng xúc phạm nhau và đừng gọi nhau bằng những biệt danh (mục đích nhạo báng và chế giễu). (Quả thật,) việc bêu tên xấu của một người sau khi y đã có đức tin là một hành động bất tuân (Allah). Và ai không sám hối thì đó là những kẻ làm điều sai quấy.
12يَا أَيُّهَا الَّذِينَ آمَنُوا اجْتَنِبُوا كَثِيرًا مِّنَ الظَّنِّ إِنَّ بَعْضَ الظَّنِّ إِثْمٌ ۖ وَلَا تَجَسَّسُوا وَلَا يَغْتَب بَّعْضُكُم بَعْضًا ۚ أَيُحِبُّ أَحَدُكُمْ أَن يَأْكُلَ لَحْمَ أَخِيهِ مَيْتًا فَكَرِهْتُمُوهُ ۚ وَاتَّقُوا اللَّهَ ۚ إِنَّ اللَّهَ تَوَّابٌ رَّحِيمٌ
Hỡi những người có đức tin! Các ngươi hãy tránh nhiều giả định (tiêu cực). Thật vậy, một số giả định là tội lỗi. Các ngươi đừng dọ thám cũng như đừng nói xấu lẫn nhau. Lẽ nào ai đó trong các ngươi thích ăn thịt của người anh em của mình đã chết? Vì vậy, các ngươi hãy ghét việc làm đó. Các ngươi hãy sợ Allah. Quả thật, Allah là Đấng chấp nhận sự ăn năn sám hối, Đấng Nhân Từ.
13يَا أَيُّهَا النَّاسُ إِنَّا خَلَقْنَاكُم مِّن ذَكَرٍ وَأُنثَىٰ وَجَعَلْنَاكُمْ شُعُوبًا وَقَبَائِلَ لِتَعَارَفُوا ۚ إِنَّ أَكْرَمَكُمْ عِندَ اللَّهِ أَتْقَاكُمْ ۚ إِنَّ اللَّهَ عَلِيمٌ خَبِيرٌ
Hỡi nhân loại! TA (Allah) đã tạo hóa các ngươi từ một người nam và một người nữ và làm cho các ngươi thành các quốc gia và những bộ lạc để các ngươi nhận biết lẫn nhau. Quả thật, người vinh dự và cao quý nhất ở nơi Allah là người có Taqwa (sự ngay chính, ngoan đạo và sợ Allah) nhất trong các ngươi. Quả thật, Allah là Đấng Hằng Biết, Đấng Thông Toàn.
Al-HujuratMục Lục Kinh Qur'an
18Câu Kinh
MedinanRevelation
11Câu Kinh

Bản Dịch — Al-Hujurat 11

Surah Al-Hujurat Câu Kinh 11 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Hỡi những người có đức tin! Nhóm người này chớ…

Surah Câu Kinh 11/18 — Surah Al-Hujurat الحجرات (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Al-Hujurat Nghe, Surah Al-Hujurat Bản Dịch, Surah Al-Hujurat mp3, Surah Al-Hujurat pdf. Câu Kinh 9–13. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.





Kinh Qur'an


Monday, September 28, 2026

Đừng quên chúng tôi trong những lời cầu nguyện tốt lành của bạn