Al-Hasyr · 9/24
Bản Dịch Phiên Âm — Surah Al-Hasyr
وَالَّذِينَ تَبَوَّءُوا الدَّارَ وَالْإِيمَانَ مِن قَبْلِهِمْ يُحِبُّونَ مَنْ هَاجَرَ إِلَيْهِمْ وَلَا يَجِدُونَ فِي صُدُورِهِمْ حَاجَةً مِّمَّا أُوتُوا وَيُؤْثِرُونَ عَلَىٰ أَنفُسِهِمْ وَلَوْ كَانَ بِهِمْ خَصَاصَةٌ ۚ وَمَن يُوقَ شُحَّ نَفْسِهِ فَأُولَٰئِكَ هُمُ الْمُفْلِحُونَ ۝٩
Wallazeena tabawwa`ud daara wal eemaana min qablihim yuhibboona man haajara ilaihim wa laa yajidoona fee sudoorihim haajatam mimmaa ootoo wa yu`siroona `alaa anfusihim wa law kaana bihim khasaasah; wa many yooqa shuhha nafsihee fa ulaaa`ika humul muflihoon
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Và (cũng dành cho) những người đã định cư (ở Madinah) và người có đức tin trước họ. Họ yêu thương những ai di cư đến với mình, trong lòng họ thật sự không thèm muốn những gì đã được trao tặng cho (những người Muhajirin). Họ đã dành cho những người Muhajirin sự ưu tiên hơn chính bản thân họ mặc dầu họ cũng ở trong tình trạng thiếu thốn không kém. Và ai giữ được lòng mình khỏi sự keo kiệt thì đó là những người sẽ thành công.

M Mishary Rashid Alafasy ✓
M Mahmoud Khalil Al-Husary ✓
A Abdurrahman As-Sudais ✓
M Mohamed Siddiq Al-Minshawi ✓
A Abdul Basit Abdul Samad ✓
A Ali Al-Hudhaify ✓
A Ahmed ibn Ali al-Ajamy ✓
A Abu Bakr Ash-Shaatree ✓
M Muhammad Ayyoub ✓
A Abdullah Basfar ✓
A Abdullah Al-Juhani ✓
M Maher Al Muaiqly ✓
0:00
0:00
📜

Bản Dịch — Tafsir

  1. Giải thích các từ ngữ cần làm rõ trong câu kinh:
  • Tabawwa'ū: cư trú, định cư, ổn định chỗ ở.
  • Ad-Dār: "Ngôi nhà" ở đây chỉ thành phố Madinah.
  • Al-Īmān: đức tin, sự tin tưởng nơi Allah và Sứ giả của Ngài.
  • Ḥājah: nhu cầu, ở đây mang nghĩa oán giận, ganh tị, bức xúc trong lòng.
  • Al-Fay': tài sản thu được từ kẻ thù mà không cần giao chiến.
  • Yu'thirūn: ưu tiên, dành phần hơn cho người khác.
  • Khaṣāṣah: sự túng thiếu, nghèo khó, cần đến điều mà mình đang cho đi.
  • Shuhha: sự keo kiệt, bủn xỉn, lòng tham lam và bám chặt vào tài sản.
  • Al-Mufliḥūn: những người thành công, thắng lợi, đạt được điều mong muốn và thoát khỏi điều sợ hãi.
  1. Giải thích ý nghĩa câu kinh:

Allah ca ngợi nhóm Ansar – những người dân Madinah đã định cư tại thành phố này và đón nhận đức tin trước khi những người Muhajirun di cư đến. Họ yêu thương những người đã rời bỏ quê hương vì Allah và đến sống cùng họ. Trong lòng họ không hề có sự ganh tị hay oán giận khi thấy những người Muhajirun được ban cho một phần tài sản mà họ không nhận được. Ngược lại, họ còn ưu tiên và dành phần hơn cho những người anh em Muhajirun, ngay cả khi bản thân họ đang túng thiếu và cần đến những gì họ cho đi.

Đây là hình ảnh cao đẹp của lòng vị tha, tình huynh đệ trong đức tin và sự hy sinh vì Allah. Họ không để lòng tham lam, sự keo kiệt hay tính ích kỷ chi phối bản thân. Và ai được Allah bảo vệ khỏi sự bủn xỉn, tham lam của chính mình – biết rộng lượng, biết chia sẻ và biết đặt lợi ích của người khác lên trên bản thân – thì những người đó chính là những người thành công thực sự, đạt được điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống này và ở Đời Sau.

  1. Những bài học và giá trị hấp dẫn từ câu kinh:
  • Câu kinh tôn vinh tinh thần hy sinh và lòng vị tha cao cả, cho thấy đạo Islam đề cao tình yêu thương và sự sẻ chia giữa những người anh em cùng đức tin.
  • Việc ưu tiên người khác dù bản thân còn thiếu thốn là một phẩm chất cao quý, mang lại phần thưởng lớn lao từ Allah.
  • Sự ganh tị và oán giận trong lòng là điều cần loại bỏ; trái lại, hãy vui mừng khi người khác được ban phước.
  • Thành công thật sự không nằm ở việc tích lũy tài sản, mà ở việc chiến thắng lòng tham lam và biết cho đi vì Allah.
  • Đây là lời mời gọi mỗi người noi theo tấm gương của Ansar: yêu thương, rộng lượng, và đặt anh em mình lên trên bản thân, để đạt được sự thành công vĩnh cửu.


📜 Câu Kinh 7-11 — Surah Al-Hasyr

7مَّا أَفَاءَ اللَّهُ عَلَىٰ رَسُولِهِ مِنْ أَهْلِ الْقُرَىٰ فَلِلَّهِ وَلِلرَّسُولِ وَلِذِي الْقُرْبَىٰ وَالْيَتَامَىٰ وَالْمَسَاكِينِ وَابْنِ السَّبِيلِ كَيْ لَا يَكُونَ دُولَةً بَيْنَ الْأَغْنِيَاءِ مِنكُمْ ۚ وَمَا آتَاكُمُ الرَّسُولُ فَخُذُوهُ وَمَا نَهَاكُمْ عَنْهُ فَانتَهُوا ۚ وَاتَّقُوا اللَّهَ ۖ إِنَّ اللَّهَ شَدِيدُ الْعِقَابِ
Những gì Allah tịch thu được cho Sứ Giả của Ngài từ cư dân của các thị trấn là của Allah và Sứ Giả của Ngài, của bà con ruột thịt, của trẻ mồ côi, của người thiếu thốn và của người lỡ đường, mục đích để nó không là sự phân bổ vĩnh viễn cho người giàu có trong số các ngươi. Những gì Sứ Giả (Muhammad) mang đến cho các ngươi thì các ngươi hãy nhận lấy nó; và những gì Y cấm các ngươi thì các ngươi hãy dừng lại. Các ngươi hãy sợ Allah, bởi quả thật, Allah rất nghiêm khắc trong việc trừng phạt.
8لِلْفُقَرَاءِ الْمُهَاجِرِينَ الَّذِينَ أُخْرِجُوا مِن دِيَارِهِمْ وَأَمْوَالِهِمْ يَبْتَغُونَ فَضْلًا مِّنَ اللَّهِ وَرِضْوَانًا وَيَنصُرُونَ اللَّهَ وَرَسُولَهُ ۚ أُولَٰئِكَ هُمُ الصَّادِقُونَ
(Những gì mà Allah tịch thu được từ chiến lợi phẩm được nói đến cũng có phần) dành cho những người Muhajirin nghèo bị trục xuất khỏi nhà cửa và tài sản của họ - họ ra đi tìm hồng phúc và sự hài lòng của Allah và họ ủng hộ Allah và Sứ Giả của Ngài. Họ đích thực là những người chân thật.
9وَالَّذِينَ تَبَوَّءُوا الدَّارَ وَالْإِيمَانَ مِن قَبْلِهِمْ يُحِبُّونَ مَنْ هَاجَرَ إِلَيْهِمْ وَلَا يَجِدُونَ فِي صُدُورِهِمْ حَاجَةً مِّمَّا أُوتُوا وَيُؤْثِرُونَ عَلَىٰ أَنفُسِهِمْ وَلَوْ كَانَ بِهِمْ خَصَاصَةٌ ۚ وَمَن يُوقَ شُحَّ نَفْسِهِ فَأُولَٰئِكَ هُمُ الْمُفْلِحُونَ
Và (cũng dành cho) những người đã định cư (ở Madinah) và người có đức tin trước họ. Họ yêu thương những ai di cư đến với mình, trong lòng họ thật sự không thèm muốn những gì đã được trao tặng cho (những người Muhajirin). Họ đã dành cho những người Muhajirin sự ưu tiên hơn chính bản thân họ mặc dầu họ cũng ở trong tình trạng thiếu thốn không kém. Và ai giữ được lòng mình khỏi sự keo kiệt thì đó là những người sẽ thành công.
10وَالَّذِينَ جَاءُوا مِن بَعْدِهِمْ يَقُولُونَ رَبَّنَا اغْفِرْ لَنَا وَلِإِخْوَانِنَا الَّذِينَ سَبَقُونَا بِالْإِيمَانِ وَلَا تَجْعَلْ فِي قُلُوبِنَا غِلًّا لِّلَّذِينَ آمَنُوا رَبَّنَا إِنَّكَ رَءُوفٌ رَّحِيمٌ
Và (có một phần dành cho) những người đến sau họ, cầu nguyện: “Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài tha thứ tội lỗi cho bầy tôi và cho những người anh em đã tin tưởng trước bầy tôi, xin Ngài chớ để lòng bầy tôi có nỗi oán giận nào đối với những người đã có đức tin. Lạy Thượng Đế của bầy tôi, quả thật Ngài là Đấng Tử Tế, Đấng Nhân Từ.
11۞ أَلَمْ تَرَ إِلَى الَّذِينَ نَافَقُوا يَقُولُونَ لِإِخْوَانِهِمُ الَّذِينَ كَفَرُوا مِنْ أَهْلِ الْكِتَابِ لَئِنْ أُخْرِجْتُمْ لَنَخْرُجَنَّ مَعَكُمْ وَلَا نُطِيعُ فِيكُمْ أَحَدًا أَبَدًا وَإِن قُوتِلْتُمْ لَنَنصُرَنَّكُمْ وَاللَّهُ يَشْهَدُ إِنَّهُمْ لَكَاذِبُونَ
Ngươi (hỡi Thiên Sứ) có thấy những kẻ giả tạo đức tin nói với anh em của chúng - những kẻ vô đức tin thuộc dân Kinh Sách không? Chúng nói: “Nếu các người bị trục xuất, chúng tôi chắc chắn sẽ ra đi cùng với các người và chúng tôi sẽ không nghe theo lời một ai về chuyện của các người; và nếu các người bị tấn công, chúng tôi chắc chắn sẽ hỗ trợ các người.” Nhưng Allah làm chứng rằng chúng là những kẻ nói dối.
Al-HasyrMục Lục Kinh Qur'an
24Câu Kinh
MedinanRevelation
9Câu Kinh

Bản Dịch — Al-Hasyr 9

Surah Al-Hasyr Câu Kinh 9 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Và (cũng dành cho) những người đã định cư (ở…

Surah Câu Kinh 9/24 — Surah Al-Hasyr الحشر (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Al-Hasyr Nghe, Surah Al-Hasyr Bản Dịch, Surah Al-Hasyr mp3, Surah Al-Hasyr pdf. Câu Kinh 7–11. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.





Kinh Qur'an


Monday, September 28, 2026

Đừng quên chúng tôi trong những lời cầu nguyện tốt lành của bạn