Wa law ja`alnaahu Qur-aanan A`jamiyyal laqaaloo law laa fussilat Aayaatuhoo `a A`jamiyyunw wa `Arabiyy; qul huwa lillazeena aamanoo hudanw wa shifaaa`unw wallazeena la yu`minoona feee aazaanihim waqrunw wa huwa `alaihim `amaa; ulaaa`ika yunaadawna mim maakaanim ba`eed
📖 Bản Dịch (Ý Nghĩa Tiếng Việt)
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Nếu TA đã ban Qur’an xuống bằng một thứ tiếng không phải tiếng Ả-rập thì chắc chắn chúng đã nói: “Tại sao các câu kinh của Nó không được giải thích chi tiết (bằng tiếng nói của bọn ta chứ)?” Lẽ nào (Qur’an) bằng ngôn ngữ không phải tiếng Ả-rập còn (Sứ Giả truyền đạt Nó) lại là người Ả-rập ư? Ngươi (Thiên Sứ) hãy nói với chúng: “(Qur’an) là một nguồn chỉ đạo và là một phương thuốc chữa lành bệnh cho những ai có đức tin. Còn những kẻ vô đức tin, tai của chúng bị điếc và Qur’an là một sự mù lòa đối với chúng. Chúng giống như những kẻ được gọi từ một nơi rất xa xôi (nên chúng chẳng nghe được tiếng của người gọi).
🌐 Additional reference in Melayu
🌐 Melayu
Dan kalaulah Al-Quran itu Kami jadikan (bacaan) dalam bahasa asing, tentulah mereka akan berkata: "Mengapa tidak dijelaskan ayat-ayatnya (dalam bahasa yang kami fahami)? Patutkah Kitab itu berbahasa asing sedang Rasul yang membawanya berbangsa Arab?" Katakanlah (wahai Muhammad): "Al-Quran itu, menjadi (cahaya) petunjuk serta penawar bagi orang-orang yang beriman; dan sebaliknya orang-orang yang tidak beriman, (AL-Quran itu) menjadi sebagai satu penyakit yang menyumbat telinga mereka (bukan penawar); dan ia juga merupakan gelap-gelita yang menimpa (pandangan) mereka (bukan cahaya yang menerangi). Mereka itu - (dengan perbuatan melarikan diri dari ajaran Al-Quran, tidak ubahnya seperti) orang-orang yang diseru dari tempat yang jauh (masakan mereka dapat mendengar dengan betul atau melihat dengan nyata)".
"أَعْجَمِيًّا" (a'jamiyyan): có nghĩa là không phải tiếng Ả Rập, thuộc ngôn ngữ nước ngoài.
"لَوْلَا فُصِّلَتْ آيَاتُهُ" (lawla fussilat ayatuhu): nghĩa là "sao không được trình bày rõ ràng từng câu", tức ước gì các câu kinh được giải thích chi tiết bằng tiếng Ả Rập để dễ hiểu.
"وَقْرٌ" (waqr): nghĩa là sự điếc, sự nặng tai, không nghe được.
"عَمًى" ('aman): nghĩa là sự mù lòa, ở đây ám chỉ sự mù quáng trong nhận thức và tâm hồn.
"يُنَادَوْنَ مِن مَّكَانٍ بَعِيدٍ" (yunadawna min makanin ba'id): nghĩa là họ được gọi từ một nơi rất xa, ý chỉ họ không nghe thấy và không đáp lại lời gọi.
Giải thích ý nghĩa câu kinh:
Nếu Allah ban xuống Kinh Qur'an này bằng một ngôn ngữ không phải tiếng Ả Rập, thì những kẻ vô đức tin trong số người Ả Rập chắc chắn sẽ phản đối rằng: "Sao các câu kinh không được trình bày rõ ràng bằng tiếng Ả Rập để chúng ta hiểu?" Họ sẽ thắc mắc một cách vô lý: "Lẽ nào một cuốn kinh lại bằng tiếng nước ngoài trong khi người được ban xuống lại là người Ả Rập?" Đây là lập luận mâu thuẫn và cố chấp, bởi dù thế nào họ cũng sẽ tìm cớ để từ chối.
Hỡi Thiên Sứ, hãy nói với họ: Kinh Qur'an này đối với những người có đức tin nơi Allah và tin tưởng các vị sứ giả của Ngài là nguồn hướng dẫn thoát khỏi lầm lạc, và là phương thuốc chữa lành những căn bệnh trong lòng như sự hoài nghi, sự ngu dốt và những điều xấu xa. Còn những kẻ không có đức tin nơi Allah, thì tai của họ như bị điếc, không nghe được chân lý, và Kinh Qur'an đối với họ như sự mù lòa khiến họ không thể hiểu và không thể nhận thức được. Những kẻ được mô tả như vậy giống như người bị gọi từ một nơi rất xa xôi, làm sao có thể nghe được tiếng gọi và đáp lại lời người gọi!
Những bài học và lợi ích rút ra từ câu kinh:
Kinh Qur'an là nguồn hướng dẫn và chữa lành tâm hồn cho những ai tin tưởng, giúp họ thoát khỏi lầm lạc và thanh lọc trái tim khỏi những điều tiêu cực.
Những kẻ cố chấp từ chối chân lý sẽ luôn tìm ra cớ để phản đối, dù bằng cách này hay cách khác, bởi vấn đề không nằm ở ngôn ngữ hay hình thức mà nằm ở tấm lòng và sự kiêu ngạo.
Đức tin mở ra cánh cửa tiếp nhận chân lý, còn sự vô đức tin và kiêu ngạo sẽ khiến con người trở nên "điếc" và "mù" trước những điều tốt đẹp và đúng đắn.
Kinh Qur'an là món quà vô giá dành cho nhân loại, và những ai đến với nó bằng tấm lòng chân thành sẽ tìm thấy sự bình an, sự hướng dẫn và sự chữa lành cho tâm hồn mình.
Hãy mở rộng trái tim và đôi tai để lắng nghe lời của Allah, bởi đó là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực trong cuộc sống này và ở Đời Sau.
Nếu TA đã ban Qur’an xuống bằng một thứ tiếng không phải tiếng Ả-rập thì chắc chắn chúng đã nói: “Tại sao các câu kinh của Nó không được giải thích chi tiết (bằng tiếng nói của bọn ta chứ)?” Lẽ nào (Qur’an) bằng ngôn ngữ không phải tiếng Ả-rập còn (Sứ Giả truyền đạt Nó) lại là người Ả-rập ư? Ngươi (Thiên Sứ) hãy nói với chúng: “(Qur’an) là một nguồn chỉ đạo và là một phương thuốc chữa lành bệnh cho những ai có đức tin. Còn những kẻ vô đức tin, tai của chúng bị điếc và Qur’an là một sự mù lòa đối với chúng. Chúng giống như những kẻ được gọi từ một nơi rất xa xôi (nên chúng chẳng nghe được tiếng của người gọi).
Những điều chúng nói cho Ngươi (Thiên Sứ) chẳng khác với điều đã được nói cho các Sứ Giả trước Ngươi. Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng nắm quyền tha thứ và là Đấng sở hữu sự trừng phạt đau đớn.
Nếu TA đã ban Qur’an xuống bằng một thứ tiếng không phải tiếng Ả-rập thì chắc chắn chúng đã nói: “Tại sao các câu kinh của Nó không được giải thích chi tiết (bằng tiếng nói của bọn ta chứ)?” Lẽ nào (Qur’an) bằng ngôn ngữ không phải tiếng Ả-rập còn (Sứ Giả truyền đạt Nó) lại là người Ả-rập ư? Ngươi (Thiên Sứ) hãy nói với chúng: “(Qur’an) là một nguồn chỉ đạo và là một phương thuốc chữa lành bệnh cho những ai có đức tin. Còn những kẻ vô đức tin, tai của chúng bị điếc và Qur’an là một sự mù lòa đối với chúng. Chúng giống như những kẻ được gọi từ một nơi rất xa xôi (nên chúng chẳng nghe được tiếng của người gọi).
Quả thật, TA đã ban cho Musa Kinh Sách, nhưng đã có những tranh cãi và bất đồng trong đó. Nếu không vì một lời phán của Thượng Đế của Ngươi (Thiên Sứ) đã được phán ra từ trước thì sự việc tranh cãi và bất đồng giữa chúng đã được giải quyết xong xuôi. Thật vậy, những kẻ vô đức tin vẫn cứ hoài nghi về (Qur’an).
Người nào làm điều thiện thì được phúc cho bản thân mình, còn người nào làm điều xấu thì sẽ gặp điều xấu (tương ứng). Quả thật, Thượng Đế của Ngươi (hỡi Thiên Sứ) không bao giờ bất công với người bề tôi (của Ngài).
Surah Fussilat Câu Kinh 44 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Nếu TA đã ban Qur’an xuống bằng một thứ tiếng…
Surah Câu Kinh 44/54 — Surah Fussilat فصلت (Meccan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Fussilat Nghe, Surah Fussilat Bản Dịch, Surah Fussilat mp3, Surah Fussilat pdf. Câu Kinh 42–46. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.
Trang web SurahQuran được thành lập như một nỗ lực khiêm tốn để phụng sự Kinh Sách cao quý và Sunnah thuần khiết, mời gọi đến với Allah và tạo điều kiện cho các khoa học tôn giáo theo đường lối của Kinh Qur'an và Sunnah. Chúng tôi ca ngợi và tạ ơn Allah vì ân huệ của Ngài, và cầu xin Ngài chấp nhận việc làm của chúng tôi và làm cho chúng thành thật vì gương mặt cao quý của Ngài.