Fa in haaajjooka faqul aslamtu wajhiya lillaahi wa manit taba`an; wa qul lillazeena ootul Kitaaba wal ummiyyeena `a-aslamtum; fa in aslamoo faqadih tadaw wa in tawallaw fa innamaa `alaikal balaagh; wallaahu baseerum bil `ibaad
📖 Bản Dịch (Ý Nghĩa Tiếng Việt)
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Nếu như bọn họ tranh cãi với Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad về chân lý mà Ngươi mang đến) thì Ngươi hãy bảo họ: “Ta và những ai theo Ta đã một lòng thần phục (Allah).” Và Ngươi hãy nói với những ai được ban cho Kinh Sách lẫn những kẻ thất học (những kẻ đa thần): “Các người có chịu quy phục Islam không?” Nếu họ quy phục Islam thì họ đã được hướng đến chính đạo, còn nếu họ quay lưng thì Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) thật ra chỉ là người truyền đạt bức thông điệp mà thôi. Quả thật, Allah luôn thấy rõ (mọi động thái của) đám bầy tôi (của Ngài).
🌐 Additional reference in Melayu
🌐 Melayu
Oleh sebab itu jika mereka berhujah (menyangkal dan) membantahmu (Wahai Muhammad), maka katakanlah: "Aku telah berserah diriku kepada Allah dan demikian juga orang-orang yang mengikutku". Dan bertanyalah (Wahai Muhammad) kepada orang-orang (Yahudi dan Nasrani) yang diberi Kitab, dan orang-orang yang "Ummi" (orang-orang musyrik Arab): "Sudahkah kamu mematuhi dan menurut (ugama Islam yang aku bawa itu)?" Kemudian jika mereka memeluk Islam, maka sebenarnya mereka telah memperoleh petunjuk; dan jika mereka berpaling (tidak mahu menerima Islam), maka sesungguhnya kewajipanmu hanyalah menyampaikan (dakwah Islam itu). Dan (ingatlah), Allah sentiasa Melihat (tingkah laku) sekalian hambaNya.
﴿حَاجُّوكَ﴾: tranh luận, tranh cãi với Ngươi (Thiên Sứ Muhammad).
﴿أَسْلَمْتُ وَجْهِيَ لِلَّهِ﴾: Ta quy phục, dâng hiến trọn vẹn bản thân và sự thờ phượng của Ta chỉ cho một mình Allah, không chia sẻ cho ai khác.
﴿وَمَنِ اتَّبَعَنِ﴾: và những ai đi theo Ta (trong đức tin).
﴿الْأُمِّيِّينَ﴾: những người không có Kinh Sách, ở đây chỉ những người đa thần Ả Rập.
﴿أَأَسْلَمْتُمْ﴾: câu hỏi mang ý nghĩa mệnh lệnh, tức là "Hãy quy phục (Islam) đi".
﴿تَوَلَّوْا﴾: quay lưng lại, từ chối đức tin.
﴿الْبَلَاغُ﴾: việc truyền đạt, rao truyền thông điệp.
﴿بَصِيرٌ بِالْعِبَادِ﴾: Đấng thấy rõ mọi việc của đám nô lệ Ngài, không có gì che giấu được Ngài.
Giải thích ý nghĩa của câu Kinh:
Nếu những người thuộc dân Kinh Sách tranh luận, tranh cãi với Ngươi — hỡi Thiên Sứ — về chân lý đã được mặc khải cho Ngươi, thì hãy nói với họ rằng: Ta đã quy phục trọn vẹn bản thân Ta cho Allah, Ta thờ phượng một mình Ngài, không kết hợp ai khác cùng Ngài; và những người đi theo Ta trong đức tin cũng làm như vậy. Rồi hãy nói với dân Kinh Sách (Do Thái và Cơ Đốc) cùng những người đa thần Ả Rập không có Kinh Sách: "Các ngươi có quy phục (Islam) không?" Nếu họ quy phục và đi theo giáo luật mà Ngươi mang đến, thì quả thật họ đã đi đúng con đường ngay chính, thoát khỏi lầm lạc. Còn nếu họ quay lưng từ chối đức tin, thì Ngươi không chịu trách nhiệm về việc họ được hướng dẫn hay không — nhiệm vụ của Ngươi chỉ là truyền đạt thông điệp một cách trọn vẹn, còn việc phán xét và tính sổ thuộc về Allah. Và Allah là Đấng thấy rõ mọi việc của đám nô lệ Ngài, Ngài biết ai tin và ai không tin, và Ngài sẽ thưởng phạt mỗi người theo đúng việc họ làm.
Những bài học và lợi ích rút ra từ câu Kinh:
Câu Kinh dạy người Muslim rằng khi gặp sự tranh cãi hay chống đối, hãy bình tĩnh tuyên bố sự quy phục trọn vẹn của mình đối với Allah, chứ không cần tranh cãi gay gắt hay dùng bạo lực.
Đức tin Islam mang lại sự hướng dẫn và con đường ngay chính; ai đón nhận nó là đã tự cứu mình khỏi lầm lạc.
Nhiệm vụ của người truyền đạt là rao truyền thông điệp một cách rõ ràng; kết quả hướng dẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người và thuộc về Allah.
Allah luôn thấy rõ mọi hành động và ý định của con người, điều này khích lệ người tin làm điều tốt và tránh điều xấu, đồng thời mang lại niềm an tâm rằng công lý sẽ được thực thi.
Câu Kinh khẳng định sự cao quý của việc thành tâm quy phục một mình Allah — đây là cốt lõi của Islam, và là điều mà mọi vị Thiên Sứ đều kêu gọi.
Những ai tìm kiếm chân lý sẽ thấy trong Islam sự rõ ràng và giản dị: chỉ cần quy phục Allah và đi theo sứ mệnh của Thiên Sứ Muhammad là đã nắm được con đường đúng đắn.
Nếu như bọn họ tranh cãi với Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad về chân lý mà Ngươi mang đến) thì Ngươi hãy bảo họ: “Ta và những ai theo Ta đã một lòng thần phục (Allah).” Và Ngươi hãy nói với những ai được ban cho Kinh Sách lẫn những kẻ thất học (những kẻ đa thần): “Các người có chịu quy phục Islam không?” Nếu họ quy phục Islam thì họ đã được hướng đến chính đạo, còn nếu họ quay lưng thì Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) thật ra chỉ là người truyền đạt bức thông điệp mà thôi. Quả thật, Allah luôn thấy rõ (mọi động thái của) đám bầy tôi (của Ngài).
Allah đã chứng nhận không có Thượng Đế (đích thực) nào khác ngoài Ngài, các Thiên Thần và những người hiểu biết đang duy trì nền công lý cũng chứng nhận (như thế). Quả thật, không có Thượng Đế nào khác ngoài Ngài, Đấng Toàn Năng, Đấng Sáng Suốt.
Quả thật, tôn giáo được chấp nhận nơi Allah chỉ có Islam. Những ai được ban cho Kinh Sách (Do Thái và Thiên Chúa) đã không tranh cãi nhau (về điều này) cho đến khi họ biết rõ sự thật (Islam được mang đến không bởi một người thuộc cộng đồng của họ) thì họ mới đâm ra đố kỵ và chia rẽ. Và ai vô đức tin nơi các lời mặc khải của Allah thì quả thật Allah mau chóng tính sổ (họ).
Nếu như bọn họ tranh cãi với Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad về chân lý mà Ngươi mang đến) thì Ngươi hãy bảo họ: “Ta và những ai theo Ta đã một lòng thần phục (Allah).” Và Ngươi hãy nói với những ai được ban cho Kinh Sách lẫn những kẻ thất học (những kẻ đa thần): “Các người có chịu quy phục Islam không?” Nếu họ quy phục Islam thì họ đã được hướng đến chính đạo, còn nếu họ quay lưng thì Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) thật ra chỉ là người truyền đạt bức thông điệp mà thôi. Quả thật, Allah luôn thấy rõ (mọi động thái của) đám bầy tôi (của Ngài).
Quả thật, những kẻ vô đức tin nơi các lời mặc khải của Allah và cố tình giết chết các vị Nabi một cách bất chấp thị phi và giết luôn những ai ra lệnh duy trì công lý thì Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy báo cho họ về một sự trừng phạt đau đớn (đang chờ đợi họ).
Họ là những kẻ mà mọi việc làm (hành thiện và ngoan đạo) của họ sẽ bị xóa sạch ở trần gian lẫn Đời Sau và họ sẽ không có bất cứ ai giúp đỡ (thoát khỏi sự trừng phạt).
Surah Ali Imran Câu Kinh 20 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Nếu như bọn họ tranh cãi với Ngươi (hỡi Thiên…
Surah Câu Kinh 20/200 — Surah Ali Imran آل عمران (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Ali Imran Nghe, Surah Ali Imran Bản Dịch, Surah Ali Imran mp3, Surah Ali Imran pdf. Câu Kinh 18–22. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.
Trang web SurahQuran được thành lập như một nỗ lực khiêm tốn để phụng sự Kinh Sách cao quý và Sunnah thuần khiết, mời gọi đến với Allah và tạo điều kiện cho các khoa học tôn giáo theo đường lối của Kinh Qur'an và Sunnah. Chúng tôi ca ngợi và tạ ơn Allah vì ân huệ của Ngài, và cầu xin Ngài chấp nhận việc làm của chúng tôi và làm cho chúng thành thật vì gương mặt cao quý của Ngài.