Wa ilaa Samooda akhaahum Saalihaa; qaala yaa qawmi` budul laaha maa lakum min ilaahin ghairuhoo qad jaaa`atkum baiyinatum mir Rabbikum haazihee naaqatul laahi lakum Aayatan fazaroohaa taakul feee ardil laahi wa laa tamassoohaa bisooo`in fa yaakhuzakum `azaabun aleem
📖 Bản Dịch (Ý Nghĩa Tiếng Việt)
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Về người dân Thamud, (TA đã cử) Saleh, người anh em của họ đến với họ. (Saleh) nói: “Hỡi dân ta, các người hãy thờ phượng một mình Allah thôi, các người không hề có thần linh nào khác ngoài Ngài. Quả thật, một bằng chứng rõ ràng từ Thượng Đế của các người đã đến với các người. Đây là con lạc đà cái của Allah, một dấu hiệu dành cho các người. Cho nên, các người hãy để nó được tự do ăn trên đất của Allah và chớ đừng đụng chạm đến nó bằng bất cứ điều xấu nào kẻo các người bị trừng phạt đau đớn.”
🌐 Additional reference in Melayu
🌐 Melayu
Dan kepada kaum Thamud (Kami utuskan) saudara mereka: Nabi Soleh. Ia berkata: "Wahai kaumku! Sembahlah kamu akan Allah, (sebenarnya) tiada Tuhan bagi kamu selain daripadaNya. Sesungguhnya telah datang kepada kamu keterangan yang nyata (mukjizat) dari Tuhan kamu; ini adalah seekor unta betina (dari) Allah sebagai keterangan bagi kamu (membuktikan kebenaranku). Oleh itu, biarkanlah unta itu mencari makan di bumi Allah, dan janganlah kamu menyentuhnya dengan sesuatu yang menyakitinya; (kalau kamu menyentuhnya) maka kamu akan ditimpa azab seksa yang tidak terperi sakitnya.
Thamud: tên một bộ tộc cổ đại, được gọi là “người anh em” của họ về mặt huyết thống, không phải về mặt tôn giáo.
Salih: vị Nabi được Allah gửi đến bộ tộc Thamud.
Bayyinah: bằng chứng rõ ràng, dấu hiệu minh bạch chứng minh sự thật.
Naqatullah: con lạc đà của Allah, cách gọi nhằm tôn vinh và khẳng định nó thuộc quyền sở hữu của Allah, không ai có quyền xâm phạm.
Ayah: dấu hiệu, phép lạ chỉ rõ quyền năng của Allah và sự trung thực của vị Nabi.
Su’: điều xấu, tai họa, ở đây nghĩa là làm hại, đánh đập hoặc giết con lạc đà.
‘Adhab alim: hình phạt đau đớn.
Tafsir câu Kinh:
Allah đã gửi Nabi Salih đến với bộ tộc Thamud, những người thờ phượng các thần tượng ngoài Allah. Ông nói với họ: “Hỡi dân ta, hãy thờ phượng một mình Allah, bởi không có thần linh nào xứng đáng được thờ phượng ngoài Ngài. Hãy thành tâm thờ phượng chỉ riêng Ngài.” Ông nhắc họ rằng một bằng chứng rõ ràng từ Thượng Đế của họ đã đến, đó là con lạc đà vĩ đại được Allah tạo ra từ tảng đá như họ đã yêu cầu, như một dấu hiệu xác nhận lời ông truyền đạt. Ông bảo họ hãy để con lạc đà tự do ăn cỏ trên đất của Allah, không được làm hại nó dưới bất kỳ hình thức nào, vì nếu họ làm vậy, một hình phạt đau đớn sẽ giáng xuống họ. Con lạc đà này có thời gian uống nước riêng và họ cũng có ngày uống nước riêng, nên họ không phải chịu gánh nặng nuôi nó. Việc làm hại nó là biểu hiện của sự phủ nhận và ngạo mạn, và hậu quả sẽ là sự trừng phạt nghiêm khắc từ Allah.
Những bài học và lợi ích rút ra từ câu Kinh:
Câu Kinh khẳng định nguyên tắc cốt lõi của Islam: chỉ thờ phượng một mình Allah, không có thần linh nào khác ngoài Ngài.
Allah luôn gửi đến các vị Nabi và Sứ giả với những bằng chứng rõ ràng để con người có thể nhận biết chân lý.
Việc đối xử tử tế với các sinh vật và môi trường xung quanh là một phần của đức tin và sự tuân phục Allah.
Sự ngạo mạn và làm hại những dấu hiệu của Allah sẽ dẫn đến hình phạt đau đớn.
Câu Kinh khuyến khích con người suy ngẫm về quyền năng của Allah qua các phép lạ và dấu hiệu trong vũ trụ.
Islam đề cao lòng thương xót, công lý và trách nhiệm của con người đối với nhau và với thiên nhiên.
Việc tuân theo các vị Nabi là con đường dẫn đến thành công và bình an trong cuộc sống này và Đời Sau.
Câu Kinh nhắc nhở rằng mọi thứ trên trái đất đều thuộc về Allah, và con người chỉ là những người quản lý tạm thời.
Những ai phủ nhận chân lý sau khi đã được trình bày rõ ràng sẽ phải chịu trách nhiệm trước Allah.
Câu Kinh mời gọi con người đến với sự thờ phượng thuần khiết, nơi chỉ có Allah được tôn thờ, và điều đó mang lại sự giải phóng khỏi mọi hình thức nô lệ sai lầm.
Về người dân Thamud, (TA đã cử) Saleh, người anh em của họ đến với họ. (Saleh) nói: “Hỡi dân ta, các người hãy thờ phượng một mình Allah thôi, các người không hề có thần linh nào khác ngoài Ngài. Quả thật, một bằng chứng rõ ràng từ Thượng Đế của các người đã đến với các người. Đây là con lạc đà cái của Allah, một dấu hiệu dành cho các người. Cho nên, các người hãy để nó được tự do ăn trên đất của Allah và chớ đừng đụng chạm đến nó bằng bất cứ điều xấu nào kẻo các người bị trừng phạt đau đớn.”
(Hud) nói: “Chắc chắn sự trừng phạt và cơn thịnh nộ của Thượng Đế của các người sẽ giáng xuống các người. Lẽ nào các người lại tranh luận với Ta về những cái tên (thần linh) do chính các người và tổ tiên của các người bịa ra chứ Allah không hề ban cho bất cứ thẩm quyền nào? Vậy thì các người hãy chờ xem, Ta cũng sẽ chờ xem cùng với các người.”
Thế rồi TA đã cứu vớt (Hud) cùng với những ai đi theo Y bằng lòng thương xót nơi TA và TA đã loại bỏ toàn bộ những kẻ đã phủ nhận các dấu hiệu của TA vì chúng đã không có đức tin.
Về người dân Thamud, (TA đã cử) Saleh, người anh em của họ đến với họ. (Saleh) nói: “Hỡi dân ta, các người hãy thờ phượng một mình Allah thôi, các người không hề có thần linh nào khác ngoài Ngài. Quả thật, một bằng chứng rõ ràng từ Thượng Đế của các người đã đến với các người. Đây là con lạc đà cái của Allah, một dấu hiệu dành cho các người. Cho nên, các người hãy để nó được tự do ăn trên đất của Allah và chớ đừng đụng chạm đến nó bằng bất cứ điều xấu nào kẻo các người bị trừng phạt đau đớn.”
“Các người hãy nhớ lại khi Ngài làm cho các người kế vị sau người dân của ‘Ad và ban cho các người cuộc sống (hưởng thụ) trên trái đất khi các người đào đất làm lâu đài và đục núi làm nhà. Các người hãy nhớ về các hồng ân của Allah và chớ đừng tàn phá trên trái đất.”
Những tên lãnh đạo và cầm quyền đầy kiêu ngạo trong đám dân của (Saleh) nói với những người yếu thế có đức tin: “Các người có biết chắc Saleh là Sứ Giả được Thượng Đế của Y gửi đến không?” (Những người yếu thế) đáp: “Chúng tôi tin vào điều mà Người mang đến.”
Surah Al-A'raf Câu Kinh 73 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Về người dân Thamud, (TA đã cử) Saleh, người anh…
Surah Câu Kinh 73/206 — Surah Al-A'raf الأعراف (Meccan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Al-A'raf Nghe, Surah Al-A'raf Bản Dịch, Surah Al-A'raf mp3, Surah Al-A'raf pdf. Câu Kinh 71–75. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.
Trang web SurahQuran được thành lập như một nỗ lực khiêm tốn để phụng sự Kinh Sách cao quý và Sunnah thuần khiết, mời gọi đến với Allah và tạo điều kiện cho các khoa học tôn giáo theo đường lối của Kinh Qur'an và Sunnah. Chúng tôi ca ngợi và tạ ơn Allah vì ân huệ của Ngài, và cầu xin Ngài chấp nhận việc làm của chúng tôi và làm cho chúng thành thật vì gương mặt cao quý của Ngài.