Ibrahim · 11/52
Bản Dịch Phiên Âm — Surah Ibrahim
قَالَتْ لَهُمْ رُسُلُهُمْ إِن نَّحْنُ إِلَّا بَشَرٌ مِّثْلُكُمْ وَلَٰكِنَّ اللَّهَ يَمُنُّ عَلَىٰ مَن يَشَاءُ مِنْ عِبَادِهِ ۖ وَمَا كَانَ لَنَا أَن نَّأْتِيَكُم بِسُلْطَانٍ إِلَّا بِإِذْنِ اللَّهِ ۚ وَعَلَى اللَّهِ فَلْيَتَوَكَّلِ الْمُؤْمِنُونَ ۝١١
Qaalat lahum Rusuluhum in nahnu illaa basharum mislukum wa laakinnal laaha yamunnu `alaa mai yashaaa`u min `ibaadihee wa maa kaana lanaaa an naatiyakum bisul taanin illaa bi iznil laah; wa `alal laahi falyatawakkalil mu`minonn
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Các Sứ Giả của chúng nói với chúng: “Đúng vậy, chúng tôi vốn cũng chỉ là những người phàm như các người, tuy nhiên, Allah muốn ban ân huệ cho người nào trong đám bầy tôi của Ngài là tùy ý Ngài. Và chúng tôi không thể mang đến cho các người bất cứ thẩm quyền nào trừ khi Allah cho phép, và những người có đức tin hãy phó thác cho Allah.”

M Mishary Rashid Alafasy ✓
M Mahmoud Khalil Al-Husary ✓
A Abdurrahman As-Sudais ✓
M Mohamed Siddiq Al-Minshawi ✓
A Abdul Basit Abdul Samad ✓
A Ali Al-Hudhaify ✓
A Ahmed ibn Ali al-Ajamy ✓
A Abu Bakr Ash-Shaatree ✓
M Muhammad Ayyoub ✓
A Abdullah Basfar ✓
A Abdullah Al-Juhani ✓
M Maher Al Muaiqly ✓
0:00
0:00
📜

Bản Dịch — Tafsir

  1. Giải thích các từ ngữ cần làm rõ trong câu Kinh:
  • بَشَرٌ (bashar): loài người, con người bằng xương bằng thịt.
  • يَمُنُّ (yamunnu): ban ân huệ, ban phước lành, ưu ái ban cho.
  • سُلْطَانٍ (sulṭān): bằng chứng rõ ràng, phép lạ, thẩm quyền chứng minh sự thật.
  • بِإِذْنِ اللَّهِ (bi-idhni Allah): bằng sự cho phép của Allah, theo ý muốn và sự chấp thuận của Ngài.
  • فَلْيَتَوَكَّلِ (fal-yatawakkal): thì hãy phó thác, tin cậy và giao phó mọi việc.
  1. Giải thích nội dung câu Kinh:

Khi các vị Sứ giả nghe những lời phản đối và thách thức từ dân chúng của họ, họ đã trả lời một cách khiêm tốn và chân thật rằng: Đúng vậy, chúng tôi chỉ là những con người bình thường giống như các người, không phải là thiên thần hay một loài nào khác. Tuy nhiên, việc giống nhau ở khía cạnh con người không có nghĩa là giống nhau ở mọi phương diện. Allah ban ân huệ đặc biệt cho ai trong số những người hầu cận của Ngài mà Ngài muốn, và Ngài đã chọn họ để mang sứ mệnh truyền đạt thông điệp đến nhân loại. Đó là ân huệ và sự lựa chọn của Allah, không phải do công lao hay nỗ lực của bản thân họ.

Các vị Sứ giả cũng nói rõ rằng: Chúng tôi không có khả năng tự mình mang đến những bằng chứng và phép lạ mà các người yêu cầu, bởi vì điều đó nằm ngoài khả năng của chúng tôi. Tất cả chỉ xảy ra khi có sự cho phép và ý muốn của Allah. Ngài là Đấng Toàn Năng, Đấng duy nhất có quyền năng làm điều đó. Mỗi vị Nabi được ban cho một loại phép lạ phù hợp theo ý muốn của Allah, và không ai có thể tự ý tạo ra phép lạ hay bằng chứng nào.

Cuối cùng, các vị Sứ giả khẳng định một nguyên tắc quan trọng trong đức tin: Những người có đức tin chân thành phải đặt trọn niềm tin cậy và phó thác vào một mình Allah trong mọi công việc của họ. Bởi vì chỉ có Allah mới là Đấng sắp đặt mọi việc, ban cho mọi điều tốt lành, và Ngài là Đấng bảo hộ đáng tin cậy nhất. Lệnh ở đây là lệnh khẳng định và kêu gọi: những người có đức tin hãy phó thác mọi việc cho Allah, Đấng duy nhất xứng đáng được tin cậy.

  1. Những bài học và lợi ích rút ra từ câu Kinh:

Câu Kinh này dạy chúng ta rằng việc các vị Sứ giả là con người bình thường không làm giảm giá trị sứ mệnh của họ, bởi vì sự cao quý đến từ sự lựa chọn và ân huệ của Allah, chứ không phải từ bản chất loài người. Điều này giúp chúng ta hiểu rằng Islam không đòi hỏi những điều siêu nhiên hay phi thường để tin, mà là sự kết nối chân thành với Đấng Tạo Hóa qua lý trí và trái tim.

Câu Kinh cũng nhắc nhở chúng ta rằng mọi quyền năng và phép lạ đều thuộc về một mình Allah. Không ai có thể tự tạo ra bằng chứng hay phép lạ ngoài sự cho phép của Ngài. Điều này khuyến khích người có đức tin khiêm tốn, không kiêu ngạo, và luôn nhận biết giới hạn của bản thân.

Bài học quan trọng nhất là sự phó thác (tawakkul) vào Allah. Khi chúng ta đặt trọn niềm tin vào Ngài, chúng ta sẽ cảm thấy bình an, mạnh mẽ và không bị lay chuyển trước những thách thức hay lời chế giễu của người khác. Đây là con đường của những người có đức tin chân thành, và là nguồn an ủi lớn lao cho tâm hồn.

Cuối cùng, câu Kinh này mời gọi chúng ta nhìn vào sự hài hòa giữa việc là con người bình thường và việc được Allah ban ân huệ. Nó cho thấy Islam tôn vinh cả sự khiêm tốn lẫn sự cao quý, và mở ra cánh cửa hy vọng cho mọi người: bất kỳ ai cũng có thể được Allah ban ân huệ nếu Ngài muốn, và bất kỳ ai cũng có thể trở thành người có đức tin mạnh mẽ bằng cách phó thác trọn vẹn cho Ngài.



📜 Câu Kinh 9-13 — Surah Ibrahim

9أَلَمْ يَأْتِكُمْ نَبَأُ الَّذِينَ مِن قَبْلِكُمْ قَوْمِ نُوحٍ وَعَادٍ وَثَمُودَ ۛ وَالَّذِينَ مِن بَعْدِهِمْ ۛ لَا يَعْلَمُهُمْ إِلَّا اللَّهُ ۚ جَاءَتْهُمْ رُسُلُهُم بِالْبَيِّنَاتِ فَرَدُّوا أَيْدِيَهُمْ فِي أَفْوَاهِهِمْ وَقَالُوا إِنَّا كَفَرْنَا بِمَا أُرْسِلْتُم بِهِ وَإِنَّا لَفِي شَكٍّ مِّمَّا تَدْعُونَنَا إِلَيْهِ مُرِيبٍ
(Hỡi những kẻ vô đức tin!) Lẽ nào các ngươi chưa nghe thông tin về các thế hệ trước các ngươi? Đám dân của Nuh, đám dân ‘Ad (của Hud), đám dân Thamud (của Saleh) và những ai sau chúng? Allah biết rõ về chúng hơn ai hết. Khi các Sứ Giả của chúng đến gặp chúng cùng với các bằng chứng rõ ràng thì chúng lại đưa tay lên miệng, nói: “Quả thật, bọn ta không tin vào điều mà các ngươi được cử phái đến, và bọn ta thực sự hoài nghi về điều mà các ngươi kêu gọi bọn ta đến với nó.”
10۞ قَالَتْ رُسُلُهُمْ أَفِي اللَّهِ شَكٌّ فَاطِرِ السَّمَاوَاتِ وَالْأَرْضِ ۖ يَدْعُوكُمْ لِيَغْفِرَ لَكُم مِّن ذُنُوبِكُمْ وَيُؤَخِّرَكُمْ إِلَىٰ أَجَلٍ مُّسَمًّى ۚ قَالُوا إِنْ أَنتُمْ إِلَّا بَشَرٌ مِّثْلُنَا تُرِيدُونَ أَن تَصُدُّونَا عَمَّا كَانَ يَعْبُدُ آبَاؤُنَا فَأْتُونَا بِسُلْطَانٍ مُّبِينٍ
Các Sứ Giả của chúng nói với chúng: “Lẽ nào các người lại hoài nghi về Allah, Ðấng đã sáng tạo ra các tầng trời và trái đất? Ngài kêu gọi các người (tin nơi Ngài) để Ngài tha thứ tội lỗi cho các người và để các người tiếp tục sống hết tuổi thọ đã được ấn định.” Chúng đáp: “Các ngươi thật ra cũng chỉ là con người phàm tục như bọn ta. Các ngươi muốn ngăn cản bọn ta thờ phượng những thần linh mà ông bà cha mẹ của bọn ta đã thờ phượng ư? Vậy thì các ngươi hãy cho bọn ta xem một thẩm quyền rõ ràng (để khẳng định sứ mạng của các ngươi là thật đi nào).”
11قَالَتْ لَهُمْ رُسُلُهُمْ إِن نَّحْنُ إِلَّا بَشَرٌ مِّثْلُكُمْ وَلَٰكِنَّ اللَّهَ يَمُنُّ عَلَىٰ مَن يَشَاءُ مِنْ عِبَادِهِ ۖ وَمَا كَانَ لَنَا أَن نَّأْتِيَكُم بِسُلْطَانٍ إِلَّا بِإِذْنِ اللَّهِ ۚ وَعَلَى اللَّهِ فَلْيَتَوَكَّلِ الْمُؤْمِنُونَ
Các Sứ Giả của chúng nói với chúng: “Đúng vậy, chúng tôi vốn cũng chỉ là những người phàm như các người, tuy nhiên, Allah muốn ban ân huệ cho người nào trong đám bầy tôi của Ngài là tùy ý Ngài. Và chúng tôi không thể mang đến cho các người bất cứ thẩm quyền nào trừ khi Allah cho phép, và những người có đức tin hãy phó thác cho Allah.”
12وَمَا لَنَا أَلَّا نَتَوَكَّلَ عَلَى اللَّهِ وَقَدْ هَدَانَا سُبُلَنَا ۚ وَلَنَصْبِرَنَّ عَلَىٰ مَا آذَيْتُمُونَا ۚ وَعَلَى اللَّهِ فَلْيَتَوَكَّلِ الْمُتَوَكِّلُونَ
(Các Sứ Giả nói tiếp:) “Làm sao chúng tôi lại không phó thác cho Allah trong khi Ngài đã hướng dẫn các con đường (tốt đẹp và đúng đắn) cho chúng tôi. Chắc chắn chúng tôi sẽ kiên nhẫn chịu đựng trước bất kỳ tác hại nào mà các người gây ra cho chúng tôi. Và hãy phó cho Allah hỡi những người muốn phó thác!”
13وَقَالَ الَّذِينَ كَفَرُوا لِرُسُلِهِمْ لَنُخْرِجَنَّكُم مِّنْ أَرْضِنَا أَوْ لَتَعُودُنَّ فِي مِلَّتِنَا ۖ فَأَوْحَىٰ إِلَيْهِمْ رَبُّهُمْ لَنُهْلِكَنَّ الظَّالِمِينَ
Những kẻ vô đức tin nói với các Sứ Giả của chúng: “Bọn ta chắc chắn sẽ đuổi các ngươi ra khỏi xứ của bọn ta, hoặc các ngươi phải trở lại với tín ngưỡng của bọn ta.” Vì vậy, Thượng Đế của chúng mặc khải (cho các Sứ Giả của Ngài) thông báo đến chúng (lời phán của Ngài): “TA chắc chắn sẽ hủy diệt những kẻ làm điều sai quấy.”
IbrahimMục Lục Kinh Qur'an
52Câu Kinh
MeccanRevelation
11Câu Kinh

Bản Dịch — Ibrahim 11

Surah Ibrahim Câu Kinh 11 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Các Sứ Giả của chúng nói với chúng: “Đúng vậy,…

Surah Câu Kinh 11/52 — Surah Ibrahim إبراهيم (Meccan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Ibrahim Nghe, Surah Ibrahim Bản Dịch, Surah Ibrahim mp3, Surah Ibrahim pdf. Câu Kinh 9–13. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.





Kinh Qur'an


Wednesday, September 30, 2026

Đừng quên chúng tôi trong những lời cầu nguyện tốt lành của bạn