Al-An'am · 138/165
Bản Dịch Phiên Âm — Surah Al-An'am
وَقَالُوا هَٰذِهِ أَنْعَامٌ وَحَرْثٌ حِجْرٌ لَّا يَطْعَمُهَا إِلَّا مَن نَّشَاءُ بِزَعْمِهِمْ وَأَنْعَامٌ حُرِّمَتْ ظُهُورُهَا وَأَنْعَامٌ لَّا يَذْكُرُونَ اسْمَ اللَّهِ عَلَيْهَا افْتِرَاءً عَلَيْهِ ۚ سَيَجْزِيهِم بِمَا كَانُوا يَفْتَرُونَ ۝١٣٨
Wa qaaloo haaziheee an`aamunw wa harsun hijrun laa yat`amuhaaa illaa man nashaaa`u biza`mihim wa an`aamun hurrimat zuhooruhaa wa an`aamul laa yazkuroonas mal laahi `alaihaf tiraaa`an `alaih; sa yajzeehim bimaa kaanoo yaftaroon
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
(Những kẻ đa thần) nói theo ý của chúng: “Đây là thú nuôi và nông sản bị cấm sử dụng ngoại trừ những ai mà bọn ta cho phép. Còn đây là những thú vật(3) bị cấm dùng để chuyên chở, và đây là thú nuôi không được nhân danh Allah lúc cắt tiết.” (Đó toàn là) sự bịa đặt cho (Allah). Rồi đây, Ngài sẽ đáp trả lại chúng (sự trừng phạt xứng đáng) bởi những gì chúng đã bịa đặt.

M Mishary Rashid Alafasy ✓
M Mahmoud Khalil Al-Husary ✓
A Abdurrahman As-Sudais ✓
M Mohamed Siddiq Al-Minshawi ✓
A Abdul Basit Abdul Samad ✓
A Ali Al-Hudhaify ✓
A Ahmed ibn Ali al-Ajamy ✓
A Abu Bakr Ash-Shaatree ✓
M Muhammad Ayyoub ✓
A Abdullah Basfar ✓
A Abdullah Al-Juhani ✓
M Maher Al Muaiqly ✓
0:00
0:00
📜

Bản Dịch — Tafsir

  1. معاني الكلمات:
  • أَنْعَامٌ: gia súc, bao gồm lạc đà, bò, cừu, dê.
  • حَرْثٌ: hoa màu, mùa màng, cây trồng.
  • حِجْرٌ: bị cấm, bị ngăn chặn, không được phép.
  • لَا يَطْعَمُهَا: không được ăn nó.
  • بِزَعْمِهِمْ: theo lời tuyên bố và khẳng định của họ (mang tính cáo buộc, không có căn cứ).
  • حُرِّمَتْ ظُهُورُهَا: bị cấm cưỡi hoặc chở đồ trên lưng.
  • لَا يَذْكُرُونَ اسْمَ اللَّهِ عَلَيْهَا: không nhắc đến tên Allah khi giết mổ chúng.
  • افْتِرَاءً عَلَيْهِ: bịa đặt, vu khống điều đó cho Allah.
  • سَيَجْزِيهِم: Ngài sẽ trừng phạt họ.
  • يَفْتَرُونَ: họ bịa đặt, vu khống.
  1. Tafsir (giải thích ý nghĩa câu Kinh):

Những người đa thần (Mushrikun) đã tự đặt ra những quy định và luật lệ từ bản thân họ mà không có căn cứ từ Allah. Họ tuyên bố rằng một số loại gia súc và hoa màu này là bị cấm, không ai được ăn ngoại trừ những người mà họ cho phép, chẳng hạn như những người phục vụ các thần tượng hoặc những người khác theo ý muốn của họ. Đây chỉ là những lời khẳng định vô căn cứ và bịa đặt.

Họ cũng tuyên bố rằng một số loại gia súc khác bị cấm cưỡi hoặc chở đồ trên lưng, như những con lạc đà được gọi là Bahirah, Saibah và Hamy. Họ không được phép cưỡi chúng hoặc sử dụng chúng để vận chuyển.

Ngoài ra, có những loại gia súc mà khi giết mổ, họ không nhắc đến tên của Allah, mà thay vào đó là nhắc đến tên các thần tượng của họ. Tất cả những điều này họ làm như một sự bịa đặt và vu khống đối với Allah, cho rằng những quy định này đến từ Ngài.

Allah đã cảnh báo rằng Ngài sẽ trừng phạt họ vì những gì họ đã bịa đặt và vu khống đối với Ngài.

  1. Những bài học và lợi ích từ câu Kinh:
  • Câu Kinh này cho thấy sự nguy hiểm của việc tự đặt ra luật lệ tôn giáo mà không có căn cứ từ Allah, và việc bịa đặt những điều đó cho Allah là một tội lỗi nghiêm trọng.
  • Nó nhấn mạnh rằng mọi quy định về điều được phép (halal) và bị cấm (haram) phải xuất phát từ Allah và Sứ giả của Ngài, không phải từ những tuyên bố cá nhân hay truyền thống không có cơ sở.
  • Câu Kinh khuyến khích người đọc tìm hiểu và tuân theo những quy định chính thống của Islam, đồng thời tránh xa những sự bịa đặt và đổi mới (bid'ah) trong tôn giáo.
  • Nó cũng nhắc nhở về lòng thương xót và công lý của Allah, khi Ngài cảnh báo về hình phạt dành cho những ai bịa đặt điều dối trá về Ngài, nhưng đồng thời Ngài cũng mở rộng cửa sám hối cho những ai quay về với Ngài.
  • Cuối cùng, câu Kinh này khuyến khích người Muslim tìm kiếm kiến thức chân chính từ Kinh Qur'an và Sunnah, và sống theo những hướng dẫn đó để đạt được sự hài lòng của Allah và thành công ở đời này và đời sau.


📜 Câu Kinh 136-140 — Surah Al-An'am

136وَجَعَلُوا لِلَّهِ مِمَّا ذَرَأَ مِنَ الْحَرْثِ وَالْأَنْعَامِ نَصِيبًا فَقَالُوا هَٰذَا لِلَّهِ بِزَعْمِهِمْ وَهَٰذَا لِشُرَكَائِنَا ۖ فَمَا كَانَ لِشُرَكَائِهِمْ فَلَا يَصِلُ إِلَى اللَّهِ ۖ وَمَا كَانَ لِلَّهِ فَهُوَ يَصِلُ إِلَىٰ شُرَكَائِهِمْ ۗ سَاءَ مَا يَحْكُمُونَ
(Những kẻ đa thần) đã tự bịa ra việc phải cúng tế cho Allah một phần nông sản và thú nuôi mà (Allah) đã tạo ra cho chúng, chúng nói theo ý của chúng: “Đây là của Allah còn đây là của những thần linh của chúng tôi.” Những gì dành cho các thần linh của chúng là để khỏi đến được với Allah (qua việc chia cho người nghèo, người khó khăn), còn phần của Allah thì sẽ đến được với các thần linh của chúng. Thật xấu xa và tội lỗi cho cách mà chúng đã hành xử.
137وَكَذَٰلِكَ زَيَّنَ لِكَثِيرٍ مِّنَ الْمُشْرِكِينَ قَتْلَ أَوْلَادِهِمْ شُرَكَاؤُهُمْ لِيُرْدُوهُمْ وَلِيَلْبِسُوا عَلَيْهِمْ دِينَهُمْ ۖ وَلَوْ شَاءَ اللَّهُ مَا فَعَلُوهُ ۖ فَذَرْهُمْ وَمَا يَفْتَرُونَ
Tương tự, những thần linh (Shaytan) đã làm nhiều kẻ đa thần thích thú trong việc sát hại con cái của chúng mục đích là để đẩy chúng đến sự hủy diệt và làm xáo trộn tôn giáo của chúng. Tuy nhiên, nếu Allah muốn khác đi thì chúng đã không làm điều đó. Nhưng thôi, Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy cứ mặc chúng với điều mà chúng bịa đặt.
138وَقَالُوا هَٰذِهِ أَنْعَامٌ وَحَرْثٌ حِجْرٌ لَّا يَطْعَمُهَا إِلَّا مَن نَّشَاءُ بِزَعْمِهِمْ وَأَنْعَامٌ حُرِّمَتْ ظُهُورُهَا وَأَنْعَامٌ لَّا يَذْكُرُونَ اسْمَ اللَّهِ عَلَيْهَا افْتِرَاءً عَلَيْهِ ۚ سَيَجْزِيهِم بِمَا كَانُوا يَفْتَرُونَ
(Những kẻ đa thần) nói theo ý của chúng: “Đây là thú nuôi và nông sản bị cấm sử dụng ngoại trừ những ai mà bọn ta cho phép. Còn đây là những thú vật(3) bị cấm dùng để chuyên chở, và đây là thú nuôi không được nhân danh Allah lúc cắt tiết.” (Đó toàn là) sự bịa đặt cho (Allah). Rồi đây, Ngài sẽ đáp trả lại chúng (sự trừng phạt xứng đáng) bởi những gì chúng đã bịa đặt.
139وَقَالُوا مَا فِي بُطُونِ هَٰذِهِ الْأَنْعَامِ خَالِصَةٌ لِّذُكُورِنَا وَمُحَرَّمٌ عَلَىٰ أَزْوَاجِنَا ۖ وَإِن يَكُن مَّيْتَةً فَهُمْ فِيهِ شُرَكَاءُ ۚ سَيَجْزِيهِمْ وَصْفَهُمْ ۚ إِنَّهُ حَكِيمٌ عَلِيمٌ
Chúng bảo: “Những gì trong bụng của những con thú nuôi này (nếu sinh ra còn sống) là dành riêng cho nam giới chúng ta và là điều cấm đối với các bà vợ của chúng ta, còn nếu sinh ra đã chết thì tất cả cùng hưởng chung.” Rồi đây, (Allah) sẽ đáp trả chúng (sự trừng phạt xứng đáng) cho sự bịa đặt của chúng. Quả thật, Allah là Đấng Anh Minh, Đấng Toàn Tri.
140قَدْ خَسِرَ الَّذِينَ قَتَلُوا أَوْلَادَهُمْ سَفَهًا بِغَيْرِ عِلْمٍ وَحَرَّمُوا مَا رَزَقَهُمُ اللَّهُ افْتِرَاءً عَلَى اللَّهِ ۚ قَدْ ضَلُّوا وَمَا كَانُوا مُهْتَدِينَ
Những ai đã giết con cái của mình trong sự dại dột và điên rồ cũng như tự cấm mình dùng những thứ mà Allah đã ban cấp cho họ - một sự bịa đặt cho Allah - đích thực là những kẻ thua thiệt. Họ thực sự đã đi lạc đường và không được hướng dẫn.
Al-An'amMục Lục Kinh Qur'an
165Câu Kinh
MeccanRevelation
138Câu Kinh

Bản Dịch — Al-An'am 138

Surah Al-An'am Câu Kinh 138 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : (Những kẻ đa thần) nói theo ý của chúng: “Đây…

Surah Câu Kinh 138/165 — Surah Al-An'am الأنعام (Meccan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Al-An'am Nghe, Surah Al-An'am Bản Dịch, Surah Al-An'am mp3, Surah Al-An'am pdf. Câu Kinh 136–140. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.





Kinh Qur'an


Tuesday, September 29, 2026

Đừng quên chúng tôi trong những lời cầu nguyện tốt lành của bạn