Yaaa ayyuhul lazeena aamanoo laa takoonoo kallazeena kafaroo wa qaaloo li ikhwaanihim izaa daraboo fil ardi aw kaanoo ghuzzal law kaanoo `indanaa maa maatoo wa maa qutiloo liyaj`alal laahu zaalika hasratan fee quloobihim; qallaahu yuhyee wa yumeet; wallaahu bimaa ta`maloona Baseer
📖 Bản Dịch (Ý Nghĩa Tiếng Việt)
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Hỡi những người có đức tin, các ngươi chớ đừng cư xử như những kẻ vô đức tin và chớ như những ai đã nói với các anh em đồng đạo của mình khi họ đi xa (tìm kiếm bổng lộc đây đó) trên mặt đất hoặc xuất chinh: “Giá như họ ở lại với chúng mình thì đâu đến nỗi bị chết hoặc bị giết”. Allah đã khiến điều đó (tư tưởng lệch lạc) trở thành điều tiếc nuối khôn nguôi trong lòng của họ. Quả thật, Allah là Đấng ban sự sống và cái chết. Quả thật, Ngài thấy rõ hết mọi việc các ngươi làm.
🌐 Additional reference in Melayu
🌐 Melayu
Wahai orang-orang yang beriman! Janganlah kamu menjadi seperti orang-orang (munafik) yang telah kufur dan berkata kepada saudara-saudaranya apabila mereka pergi mengembara di muka bumi untuk berniaga, atau keluar berperang (lalu mati atau terbunuh): "Kalau mereka tinggal bersama-sama kita, tentulah mereka tidak mati dan tidak terbunuh". (Apa yang mereka katakan itu tidak ada faedahnya) bahkan akibatnya Allah menjadikan (kesan perkataan dan kepercayaan mereka) yang demikian itu: penyesalan dalam hati mereka. Dan (ingatlah), Allah yang menghidupkan dan yang mematikan, dan Allah sentiasa melihat akan segala yang kamu lakukan.
ضَرَبُوا فِي الْأَرْضِ: سافروا في الأرض طلبًا للرزق والتجارة.
غُزًّى: جمع "غازٍ"، وهم الذين يخرجون للقتال في سبيل الله.
حَسْرَةً: ندامةً وحزنًا شديدًا على ما فات.
بصير: مطَّلع عليم لا تخفى عليه أعمال العباد.
تفسير الآية:
يا أيها الذين آمنوا بالله واتبعوا رسوله، لا تتشبَّهوا بالكافرين والمنافقين الذين لا يؤمنون بقضاء الله وقدره، فإنهم يقولون عن أقاربهم وإخوانهم في الكفر: إذا سافروا في الأرض طلبًا للرزق أو للتجارة، أو خرجوا للقتال في سبيل الله، فمات أحدهم أو قُتل، قالوا: لو أنهم بقوا عندنا ولم يسافروا ولم يخرجوا للقتال، ما ماتوا وما قُتلوا. يريد الله أن يجعل هذا الاعتقاد الفاسد وهذا القول سببًا لزيادة الحسرة والندامة في قلوبهم، لأنهم يظنون أن بقاءهم في ديارهم كان سيمنع عنهم الموت، وهذا جهل بحقيقة القدر. والحال أن الله وحده هو الذي يحيي ويميت بمشيئته وقدره، فلا يمنع القدر قعودُ أحدٍ في بيته، ولا يُعجِّل الموتَ خروجٌ ولا قتال. والله بما تعملون بصير، لا يخفى عليه شيء من أعمالكم وأقوالكم، وسيجازيكم عليها.
الفوائد المستنبطة من الآية:
الإيمان بالقضاء والقدر راحة للقلب وطمأنينة للنفس، فالمؤمن يعلم أن الموت والحياة بيد الله وحده، لا يتقدمان ولا يتأخران بسبب سفر أو قعود.
النهي عن التشبُّه بالكافرين في أقوالهم ومعتقداتهم الباطلة، وهذا يربي المؤمن على الاستقامة والتميز في فكره وسلوكه.
التحذير من الكلام الذي يزرع الحسرة والندامة في القلوب، فالمؤمن مطالبٌ بالكلام الطيب الذي يبني ولا يهدم.
الله سبحانه وتعالى بصير بأعمال عباده، وهذا يدفع المؤمن إلى الإخلاص والمراقبة لله في السر والعلن.
الثقة بالله والتوكل عليه مع الأخذ بالأسباب، فالمؤمن يسافر ويتاجر ويجاهد، ويعلم أن الأجل محتوم لا يتغير.
القرآن الكريم يربي المؤمنين على الحقائق الإيمانية العظيمة بأسلوب واضح، ويحذرهم من مزالق الشك والضلال.
Hỡi những người có đức tin, các ngươi chớ đừng cư xử như những kẻ vô đức tin và chớ như những ai đã nói với các anh em đồng đạo của mình khi họ đi xa (tìm kiếm bổng lộc đây đó) trên mặt đất hoặc xuất chinh: “Giá như họ ở lại với chúng mình thì đâu đến nỗi bị chết hoặc bị giết”. Allah đã khiến điều đó (tư tưởng lệch lạc) trở thành điều tiếc nuối khôn nguôi trong lòng của họ. Quả thật, Allah là Đấng ban sự sống và cái chết. Quả thật, Ngài thấy rõ hết mọi việc các ngươi làm.
Sau lần nạn kiếp đó, Ngài (Allah) gieo vào (tấm lòng) của các ngươi sự bằng an giúp một nhóm người (có đức tin) trong các ngươi vững lòng mà thiếp đi, còn nhóm người còn lại (nhóm giả tạo đức tin) thì cảm giác bất an cho bản thân mình, nó khiến họ suy nghĩ không đúng về Allah như những người thời tiền Islam đã từng nghĩ, họ nói: “Chẳng lẽ chúng tôi không được có bất cứ ý kiến nào trong vụ việc này ư?!” Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy nói với họ: “Quả thật, vụ việc này đều thuộc về một mình Allah.” Họ (đám người giả tạo đức tin) đã cố giấu kín trong lòng không muốn phơi bày cho Ngươi biết, họ nói: “Giá như chúng tôi được quyền có ý kiến thì chúng tôi đã không phải bị giết chết (oan uổng) tại đây rồi.” Ngươi hãy nói với họ: “Dẫu cho các ngươi có trốn trong nhà của mình thì những ai là người đã được an bày đối mặt với cái chết thì cái chết vẫn tìm đến tận giường ngủ của họ”. Allah muốn thử thách tấm lòng của các ngươi và thanh lọc con tim của các ngươi. Quả thật, Allah là Đấng biết rõ mọi thứ được giấu kín trong lòng (của các ngươi).
Quả thật, những ai trong các ngươi quay lưng bỏ chạy vào ngày hai đoàn quân (những người có đức tin và những kẻ vô đức tin) giáp mặt nhau (tại Uhud), chẳng qua là do đã bị Shaytan gây nhiễu lòng. Tuy nhiên, họ đã được Allah quãng đại khoan hồng sau đó. Quả thật Allah hằng dung thứ, hằng chịu đựng.
Hỡi những người có đức tin, các ngươi chớ đừng cư xử như những kẻ vô đức tin và chớ như những ai đã nói với các anh em đồng đạo của mình khi họ đi xa (tìm kiếm bổng lộc đây đó) trên mặt đất hoặc xuất chinh: “Giá như họ ở lại với chúng mình thì đâu đến nỗi bị chết hoặc bị giết”. Allah đã khiến điều đó (tư tưởng lệch lạc) trở thành điều tiếc nuối khôn nguôi trong lòng của họ. Quả thật, Allah là Đấng ban sự sống và cái chết. Quả thật, Ngài thấy rõ hết mọi việc các ngươi làm.
Nếu các ngươi bị giết trên con đường chính nghĩa của Allah hoặc chết đi (do hết tuổi) thì sự tha thứ và lòng thương xót của Allah sẽ tốt hơn những gì họ tích góp.
Surah Ali Imran Câu Kinh 156 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Hỡi những người có đức tin, các ngươi chớ đừng…
Surah Câu Kinh 156/200 — Surah Ali Imran آل عمران (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah Ali Imran Nghe, Surah Ali Imran Bản Dịch, Surah Ali Imran mp3, Surah Ali Imran pdf. Câu Kinh 154–158. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.
Trang web SurahQuran được thành lập như một nỗ lực khiêm tốn để phụng sự Kinh Sách cao quý và Sunnah thuần khiết, mời gọi đến với Allah và tạo điều kiện cho các khoa học tôn giáo theo đường lối của Kinh Qur'an và Sunnah. Chúng tôi ca ngợi và tạ ơn Allah vì ân huệ của Ngài, và cầu xin Ngài chấp nhận việc làm của chúng tôi và làm cho chúng thành thật vì gương mặt cao quý của Ngài.