An-Nisa · 152/176
Bản Dịch Phiên Âm — Surah An-Nisa
وَالَّذِينَ آمَنُوا بِاللَّهِ وَرُسُلِهِ وَلَمْ يُفَرِّقُوا بَيْنَ أَحَدٍ مِّنْهُمْ أُولَٰئِكَ سَوْفَ يُؤْتِيهِمْ أُجُورَهُمْ ۗ وَكَانَ اللَّهُ غَفُورًا رَّحِيمًا ۝١٥٢
Wallazeena aamanoo billaahi wa Rusulihee wa lam yufarriqoo baina ahadim minhum ulaaa`ika sawfa yu`teehim ujoorahum; wa kaanal laahu Ghafoorar Raheema
📖 Ý Nghĩa Tiếng Việt
Ngược lại, những ai có đức tin nơi Allah và các Thiên Sứ của Ngài, không phân biệt bất cứ ai trong số các vị Thiên Sứ đó của Ngài thì họ là những người sớm được TA ban cho phần thưởng. Quả thật, Allah hằng tha thứ, hằng khoan dung.

M Mishary Rashid Alafasy ✓
M Mahmoud Khalil Al-Husary ✓
A Abdurrahman As-Sudais ✓
M Mohamed Siddiq Al-Minshawi ✓
A Abdul Basit Abdul Samad ✓
A Ali Al-Hudhaify ✓
A Ahmed ibn Ali al-Ajamy ✓
A Abu Bakr Ash-Shaatree ✓
M Muhammad Ayyoub ✓
A Abdullah Basfar ✓
A Abdullah Al-Juhani ✓
M Maher Al Muaiqly ✓
0:00
0:00
📜

Bản Dịch — Tafsir

  1. Giải thích các từ ngữ cần làm rõ trong câu Kinh:
  • آمَنُوا (āmanū): tin tưởng, tin nhận bằng cả tấm lòng.
  • لَمْ يُفَرِّقُوا (lam yufarriqū): không phân biệt, không chia rẽ, không tin một số vị sứ giả mà phủ nhận một số vị khác.
  • أُجُورَهُمْ (ujūrahum): phần thưởng, ân thưởng của họ.
  • غَفُورًا (ghafūran): Đấng Hằng Tha Thứ, luôn bao dung và tha thứ cho những ai quay về sám hối.
  • رَحِيمًا (raḥīman): Đấng Hằng Thương Xót, luôn nhân từ và thương yêu.
  1. Giải thích ý nghĩa của câu Kinh:

Những ai tin nơi Allah, xác nhận Ngài là Đấng Duy Nhất, không kết hợp bất cứ ai hay bất cứ thứ gì với Ngài trong việc thờ phượng, đồng thời tin tưởng vào toàn bộ các vị sứ giả mà Ngài đã gửi đến, không phân biệt đối xử giữa họ, không tin một số vị rồi phủ nhận một số vị khác như cách làm của những kẻ vô đức tin, mà tin tất cả các vị sứ giả ấy, và hành động theo giáo luật của Allah, thì những người đó sẽ được Allah ban cho phần thưởng lớn lao, xứng đáng với đức tin và những việc làm ngoan đạo phát sinh từ đức tin ấy. Và Allah là Đấng Hằng Tha Thứ cho những ai trong số nô lệ của Ngài biết quay về sám hối, là Đấng Hằng Thương Xót đối với họ, nhân lên điều tốt đẹp cho họ và ban cho họ ân phước dồi dào.

  1. Những bài học và lợi ích rút ra từ câu Kinh:
  • Đức tin chân chính nơi Allah luôn đi kèm với việc tin tưởng trọn vẹn vào tất cả các vị sứ giả của Ngài, không phân biệt hay chia rẽ giữa họ. Đây là nền tảng của đức tin lành mạnh và toàn vẹn.
  • Islam không phải là tôn giáo chia rẽ hay loại trừ các vị Nabi và Rasul trước đó, mà là sự tiếp nối và xác nhận toàn bộ thông điệp thiêng liêng từ Allah.
  • Allah ban thưởng hậu hĩnh cho những ai tin đúng và hành động thiện lành xuất phát từ đức tin ấy, điều này khích lệ người tín hữu kiên trì trên con đường chính đạo.
  • Allah là Đấng Hằng Tha Thứ và Hằng Thương Xót, luôn mở rộng cửa sám hối cho những ai lỡ phạm lỗi, và nhân lên điều tốt cho những người làm lành.
  • Câu Kinh khuyến khích con người tìm hiểu và đón nhận thông điệp của Islam bằng cả trái tim, bởi đó là con đường dẫn đến phần thưởng vĩnh cửu và lòng thương xót bao la của Allah.


📜 Câu Kinh 150-154 — Surah An-Nisa

150إِنَّ الَّذِينَ يَكْفُرُونَ بِاللَّهِ وَرُسُلِهِ وَيُرِيدُونَ أَن يُفَرِّقُوا بَيْنَ اللَّهِ وَرُسُلِهِ وَيَقُولُونَ نُؤْمِنُ بِبَعْضٍ وَنَكْفُرُ بِبَعْضٍ وَيُرِيدُونَ أَن يَتَّخِذُوا بَيْنَ ذَٰلِكَ سَبِيلًا
Quả thật, những kẻ vô đức tin nơi Allah và các Thiên Sứ của Ngài đồng thời muốn chia rẽ giữa Allah và các Thiên Sứ của Ngài; họ nói: “Chúng tôi chỉ có đức tin nơi một số Thiên Sứ và phủ nhận một số khác.” Họ muốn đi giữa con đường đó.
151أُولَٰئِكَ هُمُ الْكَافِرُونَ حَقًّا ۚ وَأَعْتَدْنَا لِلْكَافِرِينَ عَذَابًا مُّهِينًا
Họ đích thực là những kẻ vô đức tin. TA đã chuẩn bị sẵn cho những kẻ vô đức tin một sự trừng phạt nhục nhã.
152وَالَّذِينَ آمَنُوا بِاللَّهِ وَرُسُلِهِ وَلَمْ يُفَرِّقُوا بَيْنَ أَحَدٍ مِّنْهُمْ أُولَٰئِكَ سَوْفَ يُؤْتِيهِمْ أُجُورَهُمْ ۗ وَكَانَ اللَّهُ غَفُورًا رَّحِيمًا
Ngược lại, những ai có đức tin nơi Allah và các Thiên Sứ của Ngài, không phân biệt bất cứ ai trong số các vị Thiên Sứ đó của Ngài thì họ là những người sớm được TA ban cho phần thưởng. Quả thật, Allah hằng tha thứ, hằng khoan dung.
153يَسْأَلُكَ أَهْلُ الْكِتَابِ أَن تُنَزِّلَ عَلَيْهِمْ كِتَابًا مِّنَ السَّمَاءِ ۚ فَقَدْ سَأَلُوا مُوسَىٰ أَكْبَرَ مِن ذَٰلِكَ فَقَالُوا أَرِنَا اللَّهَ جَهْرَةً فَأَخَذَتْهُمُ الصَّاعِقَةُ بِظُلْمِهِمْ ۚ ثُمَّ اتَّخَذُوا الْعِجْلَ مِن بَعْدِ مَا جَاءَتْهُمُ الْبَيِّنَاتُ فَعَفَوْنَا عَن ذَٰلِكَ ۚ وَآتَيْنَا مُوسَىٰ سُلْطَانًا مُّبِينًا
Người dân Kinh Sách (Do Thái) yêu cầu Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) mang xuống cho họ một quyển Kinh từ trên trời. (Điều này không lạ gì với bản tính của bọn họ) bởi trước đây, bọn họ đã từng yêu cầu Musa điều to tát hơn thế, bọn họ bảo: “Người hãy cho chúng tôi được nhìn thấy Allah”, thế là cả bọn họ bị đánh bởi lưỡi tầm sét do tội đại nghịch của họ. Sau đó bọn họ còn đúc ra một con bê để thờ sau khi đã chứng kiến biết bao bằng chứng rõ rệt. Tuy nhiên, TA (Allah) vẫn lượng thứ cho bọn họ và TA đã ban cho Musa một quyền hạn rõ rệt.
154وَرَفَعْنَا فَوْقَهُمُ الطُّورَ بِمِيثَاقِهِمْ وَقُلْنَا لَهُمُ ادْخُلُوا الْبَابَ سُجَّدًا وَقُلْنَا لَهُمْ لَا تَعْدُوا فِي السَّبْتِ وَأَخَذْنَا مِنْهُم مِّيثَاقًا غَلِيظًا
Và TA đã nâng ngọn núi At-Tur lên trên đầu bọn họ (để họ hoảng sợ mà hoàn thành) giao ước của họ; TA ra lệnh bọn họ hãy bước vào cửa (của Masjid Al-Aqsa) mà cúi đầu (nhưng họ lại quay lưng đi vào) và TA đã ra lệnh cho họ không được vi phạm lệnh cấm của ngày thứ bảy và TA đã lấy lời giao ước trịnh trọng của bọn họ.
An-NisaMục Lục Kinh Qur'an
176Câu Kinh
MedinanRevelation
152Câu Kinh

Bản Dịch — An-Nisa 152

Surah An-Nisa Câu Kinh 152 - Đọc, Nghe, Bản Dịch, Tiếng Việt : Ngược lại, những ai có đức tin nơi Allah và…

Surah Câu Kinh 152/176 — Surah An-Nisa النساء (Medinan). Đọc Nghe Bản Dịch (Tiếng Việt). Nghe: Surah An-Nisa Nghe, Surah An-Nisa Bản Dịch, Surah An-Nisa mp3, Surah An-Nisa pdf. Câu Kinh 150–154. Ý Nghĩa Tiếng Việt: Melayu.





Kinh Qur'an


Monday, September 28, 2026

Đừng quên chúng tôi trong những lời cầu nguyện tốt lành của bạn